Cô này lấy chồng chắc tại vì thằng bồ theo gia đình vượt biên qua Mỹ. Ngày hắn đi hắn chạy qua nhà rủ rê nàng đi theo, gia đình anh chàng rất thích cô. Cô lúc đó mới 20, 21 tuồi, như mấy chị em hiền lành nhút nhát lúc bầy giờ, cô đâu nỡ bỏ mẹ và ba chị. Anh chàng năn nỉ mãi không được khăn gói bầu bí theo gia đình rời Sài Gòn.
Người VN hay tin vào số, chắc cũng đúng. Vì nếu cô bạo dạn đi với anh bồ cũ ngày xưa, đời cô ngày nay chắc chắn sẽ rẻ sang hướng khác, nghĩ cũng tội. Anh T. này là cuộc tình lớn nhất đời, bây giờ cô có chồng rồi mà cô lâu lâu cũng muốn dò tìm lại. Nói vậy nhưng sau lại thôi vì, “để tao xinh đẹp lại rồi tìm nó…..”
Anh T. đi được mấy năm cô đùng một cái đi lấy chồng, làm bạn bè thân ai cũng ngỡ ngàng vì họ thấy cô từ chối hết đám này đến đám khác cả anh B., và anh C., hai người đàn ông trí thức và theo đuổi cô mãi. Cô chê anh C. vì anh này nghèo quá, hai mẹ con anh ở trong một cái nhà (lều xác xơ). Cô chả phải kẻ vi danh hám lợi gì nhưng vì gia đình cô cũng tiêu điều chả kém ai, cô sợ lấy chồng về mình khổ. Anh B. học trên cô mấy năm tại trường luật, hội đủ tiêu chuẩn, nhưng phải cái anh đạo Công giáo, mà ngày xưa người ta có thành kiến về người Công giáo lắm, cho là họ khó khăn, mà quả là họ khó thật. Trước hai anh này có thằng K. ngày nào cũng vác xe máy tới chở cô đi học, nó còn hung hăng với mấy đứa trong lớp, “thằng nào cua con N. phải đi qua xác tao!” Nói thế mà đùng cái nó bỏ cô cái rụp đi lấy con A. cùng trường, có bố chở tới trường bằng xe hơi luôn luôn.
Ngày đám cưới cô, anh A., người bạn thân nhất (anh này đang đi theo người bạn gái thân của cô) kéo cô ra chỗ riêng hỏi chuyện, “anh mà biết em muốn lấy chồng thì trước anh và các bạn đã cột chân cột tay em bắt em lấy anh B.” Bạn gái của cô thì nhạo, “chết sông chết biển sao lại không mà lại đi chết ao.”
Chồng cô N. chả phải dân vô học côn đồ gì, nhưng anh chỉ học xong trung học rồi đi lính nên xo với nhiều người anh thuộc loại vô trí thức. Anh và cô N. gặp nhau cách tình cờ. Cô N. có bà chị P. xinh như búp bê, ngay cả con gái trong xóm ai cũng thích cả. Ðàn ông con trai cứ mà xếp hàng trước nhà bà C. để xin gặp cô P. Chồng cô N., anh N.và đám bạn anh cũng như thế. Hôm đó anh N. vào nhà tán cô P., cô P. nhà ta thuộc loại gái lách chách nghịch ngợm đâu thèm mấy anh này, chị ta chị muốn chọc họ mà thôi. Anh N. tán cô P., trong khi cô em N. lảng qua lảng lại cắt móng tay móng chân. Thế là họ quen nhau, nghe đâu anh N. chỉ mua tặng cô em cây cà rem.
Chả biết sao cô N. đi lấy chồng, nhưng theo ý cô, cô muốn đỡ gánh nặng cho mẹ. ( Bố cô mất khi cô lên 5 tuổi ) và bà già ở vậy nuôi con, chả lấy ai vì có lần hỏi ý con xin phép con cho bà đi lấy chồng, ai cũng chịu mà cô N. trơ tráo không cho. Và cô nghe thấp thoáng đâu đó, anh N. có bố ở nước ngoài (ông này ngày xưa là cảnh sát trưởng quân đội việt nam cộng hoà đi vượt biên), nên hy vọng một ngày nào đó cô sẽ qua được Mỹ. Hơn nữa chắc cô buồn vì anh T. đi mất nên muốn lấy chồng cho rồi, ai cũng được.
Lúc cô chuẩn bị lấy chồng, chị P. của cô, người đàn bà ngổ ngáo đi công tác ở Vũng Tàu, chị làm cho công ti dầu khí lâu lâu mới về thăm nhà nên đâu biết gì. Chị giận lắm bảo, “tao mà ở nhà tao không cho mày lấy nó đâu, và chỉ giận luôn cả người mẹ vì đã cho con đi lấy anh N.”
p2
Không biết tại sao người ta lại có thành kiến với gia đình người Bắc, nhất là các cô các bà Bắc Kỳ chính hiệu và họ yêu quý các bà mẹ vô tư người Nam, lúc noài cũng cười mỉm chi chọp. Vào làm dâu trong gia đình Bắc kỳ thì cứ như thể là tiến vào trong hang cùng ngõ hẻm biết đường nào mà lần, biết ngõ nào chui ra. Thêm các ông con trai người Bắc nể cha mẹ mình, không phải họ ghét bỏ vợ mình gì, nhưng mà mẹ thì phải chết gí ngồi trên cây dừa cao chót vót.
Sau năm 75, bằng cấp, chương trình học trước đó coi như đồ vứt đi. Trường luật cô N. học hình như họ đóng cửa (quên rồi), thế cô N. phải lò dò leo qua trường sư phạm theo cái nghề quýnh đít con trẻ. Quýnh đít con nít và có oai với bố mẹ chúng thôi, chứ ngoài đời cô N. hiền queo nên bị người ta bắt nạt, những ngày đầu bước bước chân khỏi ngôi nhà bà C., quanh năm đóng cửa cấm cung mấy cô con gái đi bộ năm phút vào nhà bà X., me. anh N. cho đến chục năm sau đó. Thói VN là nêu cao đức tính hiền lành của người phụ nữ, càng khờ càng tốt, càng nhu mì càng được tôn vinh, càng được coi là con nhà danh con nhà đậu xanh giá sống. Bị người ta ăn hiếp mà không nói gì thì lại được một tiếng thơm phức, “cô này giỏi chịu đựng,” thơm lừng từ đầu xóm đến cuối xóm ai cũng ngửi thấy và ai cũng tấm tắc khen thơm.
Bởi vậy mới thấy, phụ nữ chúng ta nhỏ nhen ích kỷ quá nên không có khôn. Trong một xã hội đặt nặng vấn đề trên-dưới, nam-nữ, lề lối, mà phần thiệt thường thiên về phụ nữ. Lẽ ra nạn nhân với nhau thì phải thông cảm cho nhau, mà lại quay ra quýnh nhau coi thằng nào cuối cùng bị quýnh nhiều hơn, thiết nghĩ mình bị quýnh không biết quýnh ai quay qua quýnh cái con cũng ngã ngựa như mình, để ắt ra dù mình ngã ngựa mình vẫn còn ở thế cao hơn nó.
Bà X. mẹ anh N., có cặp mắt sát phu, chắc cũng vì vậy mà bà và chồng bà chả ở lâu với nhau mấy mặc dù có với nhau 6 đứa con cộng với một đứa chết yểu. Ông đi lính lâu mới về thăm nhà một lần, và khi chiến tranh chấm dứt, ông chạy cái vù qua Mỹ luôn và lấy vợ khác mặc dù trên danh nghĩa họ vẫn là vợ chồng và ông thường chu cấp tiền bạc cho gia đình. Bà X. chắc hận đời đen bạc hận kẻ phụ tình, nên bà đem con cái và nhất là con dâu ra để trả cái mối thù phát khiếp, “chả ai đối xử ra gì với bà, thì giờ bà chửi cha nhà bay.”
Có lần cô N. nằm ốm bịnh rên ro ro, bà X. cắp cái quần đen qua trừng mắt, “tao không có tiền, nhà này ai bệnh chết tao không có lo.” Cô N. rên ro ro rồi chạy tớn về nhà má xin tiền bà chị lớn, bà A. làm việc ở một bệnh viện lớn ở Sài Gòn lúc bấy giờ. Nhắc đến cô A., chắc cũng tại vì cô A. mà gia đình cô bị lỡ việc đi Mỹ. Anh trai của cô A. và cô N., mấy ngày trước biến cố 30 tháng tư, ông đã thu xếp cho cả gia đình đi qua Mỹ (đi hợp lệ bằng máy bay). Theo như dự định má ông, và bốn đứa em gái, tức cô A., cô P., cô N. và cô D. sẽ đến gặp ông, vợ ông và thằng con trai mới đấy năm tại nhà riêng của ông rồi tất cả cùng đi chung. Nhưng người tính thì tính kỹ đó, nhưng vào những lúc náo loạn lúc bấy giờ, vận mệnh của con người không đơn giản chỉ nằm trong tay mình thôi (như người Tây Phương hay nói, “you can create your own destiny”), mà nó lệ thuộc phần lớn vào cái chữ người VN hay dùng lắm “số trời định.” Bữa đó Sài gòn tự dưng khi không giới nghiêm, mấy người làm ở bệnh viện cô A. làm bị kẹt lại không cho ra. Ðến giờ hẹn, bà C. bắt các con chờ chị. A, không nỡ đi vì, “Nó về thâý mẹ, các em đi mất, nó hóa điên ra.” Cả nhà đợi cô A. mãi đến chiều, rồi bà mẹ cùng mấy cô con gái dắt díu nhau ra nhà ông anh lớn. Nhưng họ đợi mãi không đợi được họ đi mất tiêu. Và họ mất liên lạc mấy năm sau đó. Nghĩ thử xem, giả sử bà C. và 3 đứa con gái đi luôn không đợi cô A. thì có lẽ 4 người hạnh phúc và một người có thể hóa điên. Nhưng vì đợi cô A. nên chắc giờ tuy không ai điên hết nhưng cả 5 thì cứ ra làm sao ấy. Nói vậy không có nghĩa là trách cô A. gì, chỉ muốn nói là chắc lúc đó Sài Gòn thiếu hụt đàn bà nên cần thêm năm người vậy thôi. Và Sài gòn muốn làm giàu thêm mớ sưu tầm của nó với những trò nhố nhăng mẹ chồng nàng dâu, chị chồng em chồng, chồng chồn vợ vọ, cho nên cô việc cô N. phải ở lại và đi lấy chồng ắt hợp lý. Vớ vẩn không cơ chứ?
p3
Phải nói các bà em bên giồng của cô N., ba cô cả thảy, ui chao kinh hãi và cũng hãi kinh. Bà em lớn thứ nhất, cô M. năm học lớp hai có một xe quảng cáo cải lương diễu qua diễu lại phe phẩy mấy tờ quảnh cáo màu mè dụ người lớn dụ luôn con nít. Thời đó mà, quanh đi quẩn lại chả có gì nên cải lương đối với họ chắc lớn lao lắm lắm. Cô M. lò dò lượn tới lượn lui, chúm mũi vào tờ quảng cáo, chả nhìn ngó gì đâm cái rầm vào xe máy (không nhớ rõ) té xuống đường, dở dở ương ương cho tới ngày nay, lớn lên và đi tới đi lui giữa cái đất Sài gòn với một trí khôn của một con bé 8 tuổi. Vì dở dở ương nên cho dù cô M. có bày trò “em chồng” với bà chị dâu N., thì phần lớn trò của cô không độc địa gì, nên chả ai phiền hà gì. Mặc dù cô N. hay than quá xá, “tao thì binh nó, mà xong rồi nó lại hùn về phe má chồng tao, chị em nó nó chửi mình.” Nhưng vì nghĩ cô M. khờ, nên cô N., và chồng cô N. thỉnh thoảng vẫn dúi tiền cho cô M. xài và cô M. nói, “cảm ơn bà chị nhe.”
Ðám cưới chú V., em chồng cô N., tiệc đãi được tổ chức ở hai bên (nhà bà X. và nhà vợ chồng cô N.), để tiện, tiền mừng đám cưới từ khách bên nhà vợ chồng cô N. sẽ được cất vào trong ngăn kéo tủ trong phòng vơ chồng cô N., không khóa chỉ khép hờ. Ðợi khi tiệc xong xuôi, rồi đem ra đếm và đưa cho vợ chồng chú V. Vậy mà tối hôm đó, mở tủ ra tiền đám cưới, (trăm ngàn chứ chả giỡn) đi chơi đâu đó quên chui về nhà. Bà X. được phen giật kinh phong chửa đổng lên, vu cho cô N. chơi em quỡm tiền mừng đám cưới. Cô N. lúc đầu cãi, sau cãi không được, chỉ ngồi cười phẩy. Họ bắt cô N. thề độc, nhưng cô nhất định không. Cô này cả đời không bao giờ thề và cô dạy cho mấy đứa con cô không bao giờ thề cả vì lỡ như mình có làm chuyện gì đó không phải thiệt mà mình không nhớ mình thề thì mình chết tươi. Cô lại nhớ chuyện hàng xóm cô H1. và chị chồng cô H2. Cô H2 có cái dây chuyền vàng, trong lần về chơi nhà mẹ chồng, cô để đâu đó trong nhà và sau đó nó bị mất. Cô nhất định là cô H1 lấy. Cô H1 nhất định là mình không. Cả nhà không biết tin ai, thế là hai bà chị chồng cô H2, nói hai người dắt nhau ra miếu thề. Người nào ăn cắp hay người nào vu khống thì sẽ chết. Mèn ơi, thề kiểu này dĩ nhiên phải có người chết rồi. (Kể cũng lạ, người ta nói người Công Giáo không tin vào lời thề, mà gia đình này dắt nhau ra miếu.) Mấy năm sau đó, chú H., vợ chú cô H2, và con bé con H3 vượt biên qua Mỹ. Tin đồn về xóm lấp lửng mấy năm, người ta đoán mò xem ai chết cuối cùng mãi sau này, đưọc tin cô H2 bị tụi Cam bốt hiếp và đập đá vào đầu. Chú H. chỉ nhìn và dẫn con chạy mất. Cô H1 than với cô N., “chị thấy đó, em đâu có lấy dây chuyền vàng, mà chị ấy cứ đổ mãi cho em.” Thế là người ta tin như điếu đổ vào lời thề.
Vậy là cô N. không thề nên cả nhà ai cũng nghi ngờ kể cả chồng cô N., “bà không lấy thì bà thề đi, mất mát gì cơ chứ!” Cô N. vẫn cứ không thề là không thề. Cô M. có mặt đó đứng nhìn. Mãi mấy hôm sau, lòi đuôi ra, cô M. đi vào phòng thấy tiền để tơ hơ, sợ bị ai lấy cô đem về nhà mình (tức nhà kế bên) cất. Cất kỹ quá cộng với cái tính lẩn thẩn cô quên béng đi. Rồi thì cũng xong chuyện.
Cô M. và cô N. có nhiều chuyện xung đột lắm lắm. Khi cô N. có đứa con gái thứ hai, giao cho cô M. nhiệm vụ trông cháu, cô em bỏ con bé lên võng (cao khoảng chừng một mét rưỡi) đong đưa nó thế nào lật võng, nó đập đầu cái bịch xuống đất. Về nhà sợ anh mắng đâu dám nói gì, mãi mấy năm sau cô M. mới thành thật khai báo. Hai vợ chồng cô N. tím tái mặt mày dù gì, “phải nói để đem nó đi bác sĩ xem xét lỡ nó lên cơn sốt đi bất tử ai biết đường đâu mà rờ.” Và cô N. cứ ngồi chắt lưỡi mỗi khi con nhỏ con nó than nhức đầu, “chắc tại ngày xưa mày bị cô mày đánh rớt võng,” hay là, “nếu ngày xưa mày không bị rớt võng thì mày thông minh hơn bây giờ.” Thế đấy đôi khi thì người ta rất thích đổ lỗi cho người khác, luyến tiếc những chuyện không may ngày xưa, dù biết làm vậy chả có ích gì, nhưng làm thì vẫn thích làm.
Nói thế cũng tội cô M. lắm cơ, giở giở ương không làm ra tiền nên cô nhiều lúc bị chính má cô đem ra chửi bới hoài, đến khi cô bịnh gần chết mà cũng bị chửi đến nỗi chú em út C. phải la lên, “mợ đừng chửi chị.” Cô M. làm đủ chuyện trong nhà, ngày nấu ba bữa cơm, giặt quần aó cho mình (mấy bộ) và cho một mớ lũ ruồi bu trong nhà. Tiền thì được anh em chu cấp không đến nỗi rách rưới, và cũng may cho cô, cô khờ quá nên ai chửi thì chửi cô không động tâm gì mấy. Dù rằng đàn bà con gái mà cứ bị nghe chửi mãi thì coi không đặng, không có nên. Phải chi đàn bà con gái VN hoặc là khùng khùng điên điên để không bị ảnh hưởng mỗi khi ai chửi mình, hoặc là dân côn đồ mất dạy để không ai dám chửi mình và nếu mình bị chửi thì mình đợp người đó lại liền. Nếu không khùng mà cũng chả mất dạy thì coi bộ hơi phiền à nha. Mấy năm sau này cô M. nghe ai rủ rê đi học bấm huyệt với một ông thầy lang băm nào đó, và cô đam mê cuộc sống tâm linh. Sáng nào tối nào hàng xóm cũng thấy cô ngồi trước nhà thiền. Cô cũng trở nên đàng hoàng tí ra. Anh chị em cô chả khuyến khích gì mà nói xiên nói xỏ coi thường mấy trò vớ vẩn của cô, họ nói cô nhát ma họ mỗi khi cô thiền chình ình trước sân khi họ dắt xe vô buổi tối. Họ đâu biết rằng thiền là phương pháp hữu ích nhất ngày nay, giúp bỏ hay làm giảm bao sự phiền toái và những tư tưởng bạo lực trong đấu óc của thời buổi công nghiệp này.
Cô M. thì không có chồng, nghe họ kể ngày xưa có một chú tên đồng nghĩa với Hoa (mà tên cô M. là tên một loài hoa) theo đuổi mãi. Chắc dở dở ương ương sao đó mà cô M. không chịu lấy người có tên nghe giống Hoa. Và cô chả phiền hà gì chuyện mình không có chồng. Và khi cô tiêu ma, anh trai cô anh N. nhắc chú C. bỏ bài “Chị tôi” của Trần Tiến vào băng quay video. Nghe đâu cô tiêu ma cũng chỉ vì cái tính ương ngạnh mát mát của mình. Bác sĩ khám bệnh khui ra bệnh bảo chữa chạy cô laị không. Cô đi kiếm ông thầy lang băm và xin xỏ thuốc men, chả khỏi, mãi đến khi bệnh lớn ra, bác sĩ bó tay, tiền bạc tung ra chỉ để lấy le. Và bà già X. má cô chửi thì vẫn chửi mãi.
Mộ chị tôi bé xinh đứng bên cầu thương nhớ mêng mông
Chị ơi sao vẫn chưa lấy chồng.
Chị tôi chưa lấy chồng
p4
Cô em giồng thứ hai, cô T1, con gái út trong nhà, thánh địa ông cố ông sư ơi, cô này thuộc loại kinh dị Mỹ. Cô có một đứa con gái và hai thằng con trai, vậy là nếu như sau này hai thằng con cô (rất xinh trai) mà không bị trò đồng tình luyến ái, thì bộ sưu tập về cái mớ hắc ám mẹ chồng và con dâu (hai đứa) sẽ được phong phú thêm ra. Sài gòn đẹp lắm sài gòn ơi, sài gòn ơi. Thiệt tình trên đời này có nhiều người có một nguồn dự trữ nuớc miếng vô cùng trù phú. Họ có khả năng cãi nói ai nhìn cũng phải tâm phục khẩu phục, không phục thì bị nó phang à ? Từ làng trên xóm dưới, hình như ai cũng đã được diện kiến tài nguyên nưóc miếng này. Nhất là cô N. và cô hàng xóm H1. Nghĩ cũng lạ, má cô H1, bà Ð. là má đỡ đầu chú M. chồng cô T1, cô T1 lấy chú M. đạo Công Giáo, đổi đạo luôn, và a dua theo chồng gọi bà Ð. là má má. Họ thân thiết với nhau lắm, cô H1 và cô T1 hồi đó chơi với nhau khăng khít. Cô H1 làm nghề cắt tóc, nên cô cắt tóc cho gia đình cô T1 luôn luôn. Không biết sao sau này đụng chuyện gì họ ghét nhau ra mặt. Cô T1 nói cô H1 mặc quấn xà lỏn rồi đứng vởn vơ trước sân nhà cho chồng cô T1 ngắm. Và họ cãi nhau luôn luôn. Cô H1 ly dỵ chồng và ở vậy nuôi đứa con nhỏ. Lâu lâu có anh bồ dẫn về nhà. Ở cái xóm nhỏ xíu bao vây bởi những ngưòi đố kỵ, phần lớn đàn bà, cô H1 bị lép vế lắm, dù gì cô cũng là gái không có chồng. Người ta cứ đem chuyện này ra mà nói xấu. Nghe đâu cô H1 tính chuyện đi Mỹ không biết có đi được chưa.
Rồi cô T1 cãi nhau với bà hàng xóm M. vì bà này than phiền gia đình cô ồn ào thấy mạng. Bà già M. chả phải vừa, cũng thuộc dân Nam bộ kinh thiên động địa. Bà mà chửi ai rồi thì người đó có nước gọi cho bộ vệ sinh thành phố về để hốt rác từ mồm bà. Bà M. đụng cô T1 mỗi người một vẻ tám chín cân vàng. Rác họ mà nghe qua đom đóm mắt thấy muốn nổ cái đùng. Nào là bà M. bú cái gì đó của cô T1, và cô T1 lột quần bà M. ra cho hàng xóm một phút rửa mắt.
Cô T1 như vậy, hỏi sao cô giáo N. chịu sao thấu. Hai bà ủm củ tỏi nhiều quá riết rồi hàng xóm chả nhớ rõ chuyện nào ra chuyện nào để mà kể cho nhau nghe nữa.
Con gái út của cô N., lúc nó còn ngủ với bà nội nó, lâu lâu nó rình bà nội nó và cô nó nói chuyện xấu về má nó, nó tỉnh ngủ ngay, từ từ đứng dậy, leo lên thành giường, trèo lên tuờng nhìn qua bông gió nghe họ nói gì để mai nói với má nó. Khi nó lớn lên một chút thấy má nó và mấy cô cãi nhau quá xá, nó với tui dợt quyền giợt võ qua lại để mà nếu không chừng nó phang cô nó và bà nội nó. Nhưng mà rồi nó chả phang ai, chắc taị sợ hàng xóm cười.
Cô N. có má tui nghe, lúc cô vác cái bụng chửa chị nó, cô đi dạy học về đói quá, lục cơm chả có gì ăn, nhìn thấy cô T1 và cô T2 (chị cô T1) ăn mấy ổ bánh mì kẹp thịt nóng phưng phức mà chả cho miếng nào, cô tức anh ách. Rồi có hôm cô đi dạy về khua, về nhà lục lọi đồ ăn bếp. Cô T2 đang ngủ nói vọng ra, “chị à cá kho để dành cho ngày mai, chị đừng có ăn.” Thế là cô N. tức nữa. Chắc cô tức quá nên sau này cô dạy mấy đứa con cô rằng, “tụi bay sau này nếu giàu có, tụi bay mang tiền giúp đỡ trẻ mồi côi, người nghèo, cúng chùa, tụi bay chớ có mà cho gia đình bên nội bay một đồng xu nào đó. Tao nhớ hoài ngày đó bà nội bay nói tao chết thì chết bả không có tiền lo.” Và cô N. cằn nhằn mỗi khi chồng cô giúp đỡ má mình vì, “ông thấy ngày đó mẹ ông đối xử tệ lậu với tôi, nếu không có má tôi và chị em tôi, tôi chết lâu rồi.” Chống cô N. khó xử, dù gì ông cũng là con trai lớn, con trai lớn trong một gia đình Bắc kỳ nữa mới chết bà. Cái mặt to nhắm chả phải chơi.
Có ông bố ở Mỹ kiếm được đồng ra đồng vào, các chị em gái viết thư xin xỏ bố. Ông bố ký ca ký cóp gửi tiền và quà về, trong thư ghi rõ cái nào cho đứa nào, trong đó có cái máy may và xấp lụa đào cho con dâu. Bà X. sau khi đọc thư và nhẩm tính nói với câ.u con trai lớn, “bây giờ tao không có tiền đóng thuế hải quan, nên tao sẽ bán xấp lụa trả tiền thuế, mà muốn xấp lụa thì đưa tiền cho tao.” Anh N. khó xử quá và cuối cùng tội nghiệp vợ, sợ cô ngẩn tò te, anh bán đôi giày ba ta để trả tiền thuế và giữ xấp lụa cho vợ. Còn cái máy may, mới đầu là của chị dâu, sau rồi thành vật chung của chị dâu N. và cô em chồng T1, hai người này đi học may chung với nhau nhưng cô T1 khéo tay hơn nên cô dùng máy may nhiều hơn, may đồ cho hàng xóm kiếm thêm thu nhập, và rồi cái máy may đó thuộc sở hữu của cô.
Ðàn bà đàn ông gì thì cũng có người nhỏ nhen ích kỷ chứ nếu nói tính này là đặc trưng của đàn bà không thì cũng hạ thấp họ, nhưng công tâm mà nói, trường hợp này xảy ra giữa chị em phụ nữ ta nhiều hơn. Chắc tại vì đàn ông đàn bà não bộ cấu tạo khác nhau. Sự khác biệt trong não đó làm cho họ có cách nhìn và sử xự vấn đề khác nhau. Chẳng hạn theo như sách vở nói thì đàn ông không có nói nhiều, trừ phi đến gần cuối mỗi khi xong việc hay đi đến một ý kiến nhất định rồi họ mới nói. Còn phụ nữ chúng ta thuộc loại nhiều chiện, nói rồi nói hoài và khoái nói. Chuyện lớn không sao, nhưng nếu áp dụng vào mấy chuyện nho nhỏ hằng ngày, mà nói tới nói lui thì ai chịu cho nổi trời ơi. Ðó là lý do tui nghĩ tại sao mẹ chồng con dâu, chị chồng em chồng là một chuyện phiền toái.
P5
vợ chồng cô N. thương yêu nhau và mấy đứa con nhỏ. Anh N. lúc đó loanh quanh làm việc lặt vặt, tiền không nhiều, lương cô giáo của cô N. cũng chỉ đủ chi tiêu chút đỉnh. Ðược cái lúc bấy giờ, anh em ở chung chả phải lo tiền nhà. Mỗi lúc đền bữa ăn, cô M. và bà mẹ chồng X. nấu một nồi cơm to đùng, một nồi canh to chả kém, chiên chiên kho kho vài thứ cho một đám mấy mạng ngồi ăn. Rẻ rề nên tiền ăn cũng không là nỗi bận tâm. Mỗi khi đi chơi, hai vợ chồng cô N. chạy ra mượn cái xe máy Pê Cê (xe mà mình phải đạp máy như đạp xe đạp, và mỗi khi xe tắt máy thì chỉ không sao, cứ cong đít lên mà đạp xe về nhà, chỉ hơi nặng một tý thôi.) của bà chị lớn của cô N, cô A. Vậy mà vui thì vẫn cứ vui. Ðến khi mầy đứa con nó lớn tí, hai đứa lớn vào cấp 2, cô N. nhủ, “không muốn con mình xấu hổ với bạn bè vì bố làm nghề lao động chân tay” nên cô xin xỏ với ông anh rể, chú Y. chồng cô P. kiếm cho chồng cô một việc làm. Chú Y. lúc đó đang làm chức lớn trong một công ty cũng lớn lắm, móc nối nhiều nên xin cho chú N. vào một công ty sau này là một trong những công ty nổi tiếng nhất Sài Gòn. Và chú N. cứ thăng chức èo èo, thân cận với ông tổng giám đốc, một lão tay chơi thứ thiệt, trai gái lăng nhăng, chả biết tiền thu vào ở đâu mà tiền chi ra cứ như là rác. Công ti sau này sập tiệm, thủ quý kế toán, bạn với anh N. đi tù thấy thảm thương. Riêng lão tổng giám đốc trốn đâu đó thoát nạn. (Anh hay em ông này là một trong những luật sư nổi tiếng nhất thành phố lúc bấy giờ). Sau khi vào làm trong công ty không bao lâu, gia đình cô N. khấm khá hẳn ra, tiền anh N. mang về ào ào, tiền lương là phụ, tiền và quà từ các mối làm ăn buôn bán thì nhiều. Cô N. giờ có nhiều tiền ăn diện và các con cô quần áo chả thiếu, và so với nhiều bạn cùng thời, tiền bố nó cho đủ làm người khác ganh tị chới với. Mỗi người giờ có xe riêng, anh đi xe phân khối lớn nổ máy ùm xùm, cô N. đi xe phân khối nhỏ hơn nên máy xe không có kêu um xùm mà kều thì thụp. Mấy đứa con cô được bố mẹ hứa khi nào tụi nó đậu đại học, mỗi đứa được một chiếc xe. Rồi bố nó đang tính mua cho chúng một cây đàn dương cầm vào cái máy vi tính. Thời đó có được cây đàn dương cầm và máy vi tính là chuyện trong mơ.
Anh N. thương thì vẫn thương con, và chắc cũng thương vợ.
Không biết người ta nói có đúng không, “có tiền sanh tật”. Anh N. ngày đi làm, vào công ty mấy tiếng rồi đi gặp các mối quan hệ làm ăn buôn bán của công ty mình. Nói chung thời khóa biểu của anh tự anh quyết định. Không biết tại vì anh được cái mác công ty mình, hay đưọc cái tiếng xe máy nổ ình ình, hay chỉ đơn giản anh là đàn ông con trai, mà các bà các chị theo như điếu đổ, và anh khoái trá lắm. Chắc bao nhiêu năm nay không có gì loan quanh luẩn quần trong xóm không lấy le được với ai, thì giờ đây bị phụ nữ bu lại, ai chả lên mặt. Anh có những biểu lộ bất thường, đi làm từ sáng tồi mới về, về xong, tắm rửa sạch sẽ xức nước thơm vào và tót lên xe đi tiếp tục, đi công tác. Và chuyện này xảy ra hoài hoài. Một đôi lần anh về nhà ngang xương, mua tặng cô N. xấp vải và dúi cho tý tiền, anh đóng gói quần áo nói ra Nha Trang công tác, chả biết công tác gì. Người ngu mới không biết anh N. dở trò gì. Hai vợ chồng bắt đầu lời qua tiếng từ lúc ấy. Ai cũng biết rồi chứ gì, đàn bà con gái cứ nói mãi. Lúc đầu anh N. còn kiếm đủ cớ, nói đủ chuyện minh bạch, nói lấp liếm, sau rồi nói hoài không được, anh tiện tay bợp tai cô N.
Ái dà, bợp tai riết cô N. lờn, và cái tật cô hay nói, thấy chồng cô dở trò thì cô nói. Và cô cứ nói là nói. Anh N. chịu hết xiết anh thượng cẳng chân hạ cẳng tay, có lần xém tí nữa anh đập đầu cô vào tường. Các em và bà mẹ can, nghĩ là họ can thật, nhưng làm sao mà can nổi. Chả hiểu sao anh N. côn đồ thế. Anh có bảo ngày xưa mẹ anh, bà X. đánh anh như bọng, lấy gáo múc nước mà cứ thế đập đôm đốp vào đầu, anh nào dám làm gí. Chắc vì thế anh xem chuyện đập vợ đập con là chuyện bình thường, làm cho con vợ khỏi nói, làm cho con ngoan ra. Nghĩ cũng lạ nếu ngày xưa nghèo thế kia mà vẫn sống yên ổn được, tại sao lúc giàu rồi, sung túc rồi lại chơi đổ đốn. Bạn cô N. cứ ca cẩm, “đúng là đồ vô ơn, không nhờ con N. nó làm gì có cái công việc ngon lành đó, rồi tiền đâu ra để mà vung vít cho mấy em.” Phải chi cô N. đừng nghỉ làm, vẫn tiếp tục đi dạy thì vẫn hay, ở nhà rồi cô giáo năm xưa đi chợ nấu cơm, rảnh quá rồi lấy chuyện chồng con lên làm đầu. Ở trường học bận rộn chuyện đồng nghiệp học sinh, đỡ phải suy nghĩ nhiều.
Không biết sao đàn ông mê cô N. như điếu đổ, họ theo vào cả nhà, và viết thư tình cho cô, cô tỉnh queo cô đưa cho em trai chồng và chồng cô đọc. Một trong những người đi theo cô N. là thầy D. dạy chung trường. Thầy dễ thương lắm con cô cũng phải thích. Ðúng là chuyện oái oăm, người bạn thân nhất của cô N. cô Th. phải lòng thầy D. dụ thầy này miết. Cô Th. có chồng và hai đứa con trai, khổ sở với chồng lắm. Bị chồng nghe mẹ đánh hoài đến nỗi có năm đi dạy cô chỉ mặc độc bộ đồ đen, hỏi cô nói, “em để tang cuộc đời.” Chuyện lòng vòng vậy mấy lần cô Th. giận cô N., cho rằng “chị làm anh ấy thích chị hơn em.” Cũng may cô Th. là phụ nữ đa tình, nên sau này khi hai chị em đi học Anh Văn, cô và ông thầy dạy anh Văn, tên P. thích nhau cô thôi không giận cô N. nữa. (Có hai lý do để giải thích tính đa tình của phụ nữ, thứ nhất là bản tính họ sinh ra đã vậy rồi, thứ hai có lẽ họ khổ quá nên gặp ai cũng động lòng cho được.) Má tui tức lắm tại sao cô N. không có cái tính đa tình đó, phải chi cô bỏ chồng đi theo thầy D., cuộc đời cô sướng hơn rồi. Và cô Th. nữa, sau này thầy Anh Văn P. và vợ đi vượt biên sang Mỹ, thầy và vợ chia tay, thầy có biên thư hỏi nếu cô Th. đồng ý thấy về thầy cưới, cô Th. không chịu vì không muốn bỏ chồng (họ đạo Công Giáo, phải ra xin phép cha cho bỏ). Và thấy P. đi lấy vợ khác. (Nãy giờ nghe tui kể chuyện tình cảm lòng vòng này, toàn là giữa những người có chồng có vợ con ráo trọi, gặp Tây Phương nó bỏ nhau lâu rồi.) Thấy cũng không hay, cô N. và cô Th. dù hai cá tính khác biệt nhau, nhưng cả hai đều là một sản phẩm nhồi nắn bởi những tư tưởng cao cả từ ngàn xưa, cao cả thì thật đấy nhưng dù sao nó cũng công cụ đóng vai trò rất lớn trong việc tạo dựng nên những cảnh, “chị em gặp nhau mếu” Chung thuỷ vợ chồng là chuyện đương nhiên, chả ai bàn cãi cả, nhưng tại sao phải chung thủy khi thằng chồng coi mình chẳng ra gì, bội bạc công khai, và còn dùng vũ lực để ra oai.
Các con cô N. một hai lần nói với mẹ, “phải chi ngày xưa mẹ lấy chú B., phải chi mẹ bỏ bố theo thầy D., phải chi mẹ chịu bỏ bố ở một mình, sống một mình như thế mà vui.” Và cô mấy lần nhờ con tìm dùm tông tích anh T., bồ cũ ngày xưa. Chả hiểu cô tìm làm gì vì biết chắc rằng có tìm ra được cô cũng chả dám gặp. Chúng nó nói vài lần rồi lại thôi vì làm thế sẽ gợi cảm giác tiếc nuối nơi mẹ chúng. Thôi thì từ giờ chúng nó chắc không nói nữa, vì làm thế giống như bôi muối vào vết thương lành rồi nhưng vẫn còn xót lắm. Ðể mẹ chúng nó làm cảnh con đà điểu chui đầu vào cát vậy. Tuy nhiên nếu được tụi nó vẫn tìm cách dụ mẹ chúng nó suy nghĩ khác đi, chớ đặt gia đình lên hàng đầu nữa. Gia đình thì quan trọng thật, nhưng dù sao mình vẫn phải đặt mình trước nhất. Không nên quan tâm gì đến lời thiên hạ suy nghĩ vì họ chả có nuôi mình được cái đếch xì gì. Người ta nói người mà thiếu tình thương từ nhỏ, lớn lên cứ phải thương người khác cho thật nhiều, phải lo lắng cho họ trước vì nghĩ ai cũng cần tình thưong như mình và họ nghĩ rằng mình phải làm vậy họ mới thương yêu mình. Người nào mà cứ bắt người khác phải đối xử tốt với họ thì họ mới chơi với thì nên bo bo xì người này ra. Chắc tại vì ngày xưa bố cô N. mất khi cô mới 5 tuổi, ông bà không có. Mẹ bận nuối 5 đứa con, sau cùng nuôi không nổi, phải cho 2 đứa cho người em chồng giàu sụ. Họ lại chọn anh con trai lớn nhất và cô P. vì hai người này xinh nhất nhà, không chọn cô N. Theo như cô N. thì hình như má cô cũng thương cô P. và cô em út D. nhất dù cô N. làm đủ trò nịnh nọt má mà không xi nhê gì. Khi lấy chồng, nhìn quanh nhìn quất chả ai thương mình, nên chắc vì thế mà cô N. cứ lo chăm bẵm mãi cái gia đình duy nhất mà cô có, dù rằng nó không được như ý muốn.
p6
Cô N. làm người ta nhớ đến nhân vật Hàn Ni. Nhưng khác với Hàn Ni vì Hàn Ni bị tim bẩm sinh nên chết yểu, cô N. bị đau tim chắc vì bà mẹ chồng, em chồng, và chồng hù cô riết làm cô yếu tim. Mấy năm đầu dạy học, cô chỉ hay mệt (ai mà chả mệt), nhưng cô làm đủ thứ việc ráo trọi và không có phiền hà gì. Mãi sau này khi hai vợ chồng giàu có rồi, có tiền vào tiền ra, và khi cô nghỉ dạy nằm nhà, cô lên cơn mãi. Nhất là hai vợ chồng cãi nhau và cô tức uất lên. Quýnh nhau cho đã, xong rồi lại đèo bồng nhau chở ra bệnh viện. Thật là quẩy! Có lần tụi con cô tưởng cô chết, vì thở phì phò, ngưòi xụi lơ, anh N. phải cạo gió tới tấp (sau khi đã chửi bới và đập cô vài đập), cô quay lại nhìn hai đứa con gái, con QN. và con PY. , “mẹ thương tụi con quá xá!” vì cô nghĩ mình chuyến này tong rồi.
Người hàng xóm thấy đánh nhau cãi nhau thì mừng hết xiết kéo nhau mà coi, can gì. Ðúng là lũ lắm công lắm nghề nhưng vô ý thức. Miệng mồm thì cứ bép xép trời trăng mây gió toàn mớ gì đâu, nhưng khi đụng chuyện đại trọng thì từ làng tổng giương mắt cá thô lố ra mà ngó khoái trá, rồi còn giở trò kẻ cả khuyên răn, “tôi khuyên anh, và tôi cũng khuyên chị.”
Cũng phải, ở cái khu ai cũng rác rến đầy mồm, ai cũng đục nhau thì cái gì cũng đúng hết trọi. Vợ chồng bà M. (bà cãi lộn với cô em chồng T1), ở cạnh nhà cô T1, hai vợ chồng mày tao mi tớ nghe thấy dễ thương hết sức, thỉnh thoảng ông M. lôi chị. M. ra đập túi bụi nện đầu đôm đốp vào tường nhìn thấy phát kinh, và rồi cái lũ lâu la hàng xóm làng giềng kéo nhau đến mà coi tuốt luốt. Lão già M. này nghe kể lại lão trấn nước làm chết thằng con trai (chắc tại nó nghịch quá), nên chị út sau này có tên con trai đặc rệt. Mà nếu ông này giết con chết thiệt, tại sao giờ ổng vẫn sống đó nhe răng ra cuời, mỗi ngày đi chợ buôn bán thịt. Chắc vì vậy mà chuyện anh N. đánh cô N. không hệ trọng gì vì anh đâu có giết ai, tiếng bợp tai kêu không có to bằng tiếng đập đầu vào tường bôm bốp. Và nếu anh N. có đập đầu cô vào tường thì anh cũng đập nhè nhẹ hơn ông M. tý, và anh đập trong nhà nên hàng xóm ít biết. Mà dân Bắc kỳ mà lị, cái sĩ diện họ to hơn cái thúng đựng gạo, cái lu đựng nước mắm, nên cãi lộn quýnh lộn gì, họ đóng cửa mà bảo ban lẫn nhau. Vô duyên sao mà nó cứ vô duyên tệ.
Thiệt lạ, đàn bà con gái trong xóm này chia ra làm các loại sau đây:
1. Con nít
2. Gái tơ chỉ biết cua trai chưa chồng
3. Gái sắp già chưa chồng hoặc ly dỵ chồng
4. Gái có chồng
5. Gái rất già và đã có chồng (tức là các bà già)
Con nít và gái tơ chửa có chồng thì tính cách chưa phát triển đầy đủ nên chả biết kể sao cho người đọc nghe, nên chỉ nói về gái số 3,4, và 5. Và gái ba số này chia làm hai loại rõ rệt, tức gái bặm trợn chả ai dám ăn hiếp, nếu không là tới số với bà. Bà X(5), cô T1(4), bà M.(5), và hầu hết các cô các bà khác thuộc loại này. Xúi quẩy cô N. (4) và cô H1(3) thuộc loại hiền quá bị tụi nó quay như chong chóng. Cũng may hai cô cao chứ không đã bị người ta leo lên cổ bắt cõng.
Có hai loại nạn nhân.
1. Loại nạn nhân thứ nhất biết mình là nạn nhân nên đi cầu cứu và tố cái thằng cái con nó hại mình và mình từ nó ra.
2. Loại nạn nhân thứ hai, dù biết có điều gì không ổn nhưng vẫn không nghĩ mình đang bị người ta hại, mà vẫn chấp nhận nó, thậm chí còn ca tụng và tìm cách thanh minh cho người hại mình nữa.
“Ảnh nóng vậy thôi chứ ảnh tốt lắm.” Rồi cô nói với các con, “ngày xưa tụi mày bệnh, bố mày ẳm mày đi cấp cứu, rồi ổng thức đêm thức hôm pha sữa cho mày bú.”
Ủa tưởng làm cha làm mẹ thì ai cũng phải làm chuyện này mà. Ðâu cần phải đem cái chuyện lẽ ra là hiển nhiên ai nếu làm cha mẹ cũng một lần làm để mà biện minh cho những cái xấu xa họ làm sau này chỉ để chứng minh họ là người cao cả.
Thường thì mấy người thuộc loại nạn nhân thứ 2 thì họ đã từng bị cha mẹ đánh đập bỏ rơi nên giờ bị đánh lại, nhưng ba cô N. mất lúc cô còn bé, từ nhỏ đến lớn cô không bị ai đánh cả. Nên chuyện cô bị ngược đãi lúc nhỏ không phải là nguyên nhân, có chăng là ngày còn bé chị em cô bị mẹ cấm cung, nuôi dạy thành con nhà danh giáo, cộng thêm cái tính hiền lành (không có như cô P. chị cô, ngổ ngaó) nên giờ cô an phận, cô không dám chống đỡ.
Còn anh N. để giải thích cho tính hung hăng của anh rất dễ:
1. Hồi nhỏ anh bị bà mẹ đập tơi bời, và anh cho đó là một cách dạy vợ dạy con đúng, đánh đập người khác là chuyện đứng đắn.
2. Anh đã từng đi lính, nhìn đồng bọn chết trước mắt nên thần kinh bị chấn động (người gọi là Post Traumatic Stress Disorder), những người này nếu không có người giúp đỡ họ (support or therapy), họ có những hành vi không có tốt lắm.
3. Anh lớn lên chung quanh các bà các cô (má anh, và các em gái) già mồm, nên chắc là anh sợ loại đàn bà con gái này, mà chả lẽ đánh mẹ đánh em, nên khi anh có vợ anh nhất định không để mình bị lép vế, “phải trị nó không thôi người ta khinh thường mình”.
Thấy chưa, mục tiêu của hành động thường hay trật đường rầy. Nếu người nào rằng mọi chuyện trên đời này đều có một cái gì đó liên kết đan chéo vào với nhau, thì họa may ai ai đềm cười vui cả lũ.
Ví dụ, nếu như bà già X. không đánh anh N., các em anh không có điêu ngoa già mồm, hay đất nước chả có chiến tranh, anh N. chắc không quýnh cô N., cô N. thôi không bị bệnh tim, con cô khỏi dụ cô bỏ bố theo trai (bất hiếu bạo), vân vân. Mọi người sẽ sướng như ri, chỉ có điều tui không có biết gì để mà nhiêù chuyện kể qúy vị nghe.
Tui thì không có Mary sến gì đâu nhưng mà thấy sao cô N. và mấy cô khác (kể cả cô T1, cô M., bà X.) nên tui rục rịch. Khi tui thấy ông Nguyễn Gia Kiểng đem mấy cái đạo lý đạo đức cũ ra ổng chửi vì nó thiệt hại người phụ nữ quá mức, tui thấy ngồ nghộ. Dĩ nhiên là sẽ có người chửi ổng, nhưng tôi sẽ rất ngạc nhiên nếu trong những người chửi ổng có đàn bà con gái.
Có ông nhà thơ này nè, không biết ông ta từ trong xóm nào chui ra, chỉ biết chắc chắc ổng không ở xóm tui. Nếu phải, chắc đàn bà con gái đó giật mình cảm động đập đầu xuống đất chết hết.
“…Ở chỗ nhân gian không thể hiểu
tôi có người hồ như hạt sương
Có bông hoa đỏ chiều tâm khúc,
Tôi thấy từ em một quê hương….”
March 2005