Monthly Archives: Tháng Mười Hai 2005


Không biết từ bao giờ một điều ước về một cuộc sống ở nơi thành phố tuyết xảy đến với tôi. Tôi ở thành phố nhiệt đới tên gọi Hồ Chí Minh–nếu bạn không thích thì tôi đá thêm một chữ nữa là Sài Gòn vậy–từ lúc bé nứt mắt cho đến khi mười-mấy-cái-xuân-xanh, quanh năm nóng hôi hổi nên tôi giựt áo cho mát tối ngày nếu tôi không muốn thở phì phò như ông già kéo bễ. Tôi thở phì phò và tôi nhìn những tấm hình trên cuốn lịch cảnh nước ngoài mà bác và bố tôi lụm từ công ty đem về nhà chưng. Tôi đâm ra thích những bức ảnh chụp cảnh tuyết vì Sài Gòn/Hồ Chí Minh nóng hừng hực chẳng bao giờ có tuyết rơi, và vì nóng hừng hực nên chỉ thấy những giọt mồ hôi rả rích chảy long tong.

Hình ảnh tiêu biểu về nước ngoài của tôi là như thế: những bông tuyết lác đác rơi, những con đường dài trắng toát hun hút lê thê tận tới chân trời, và những căn nhà gỗ biến mất hơn một nửa, bị lấp vùi dưới những đụn tuyết kem. Chắc cũng vì vậy mà tôi thích xem các bộ phim chiến tranh của Nga với những anh Hồng quân đội mũ lông lội tuyết giữa đồng không mông quạnh và nghe người lớn chúng quanh bàn tán, “bị đi đày ở Siberia giống y hệt như thế này nè mày.”

Hồi đó tôi nghĩ rằng cứ ra khỏi Việt Nam là tôi sẽ thấy tuyết rơi. Tôi nghĩ đến mùa đông ngồi trong ngôi nhà đốt lò sưởi và ngoài đường đầy tiếng leng keng của tiếng chuông ngày Nô-En. Tôi đã thấy tuyết rơi mỗi khi bạn bè rủ tôi lái xe mấy tiếng đồng hồ đi trượt tuyết ở vùng núi cao. Tôi đã ở trong một ngôi nhà muà đông đốt lò sưởi. Và tôi đã nghe ngoài đường tiếng chuông leng keng vào ngày lễ Nô-En. Nhưng tôi chưa từng bao giờ được ba cái đó trong cùng một lúc cả. Ðược con voi đòi ông bụt tôi muốn sáng mở mắt thức dậy, nhìn ra cửa sổ, tôi thấy bông tuyết lãng đãng bay tới bay lui. Nhưng sau Hồ Chí Minh tôi sống ở một nơi thời tiết được người Việt Nam tự hào rằng na ná khí hậu Sài Gòn (để viết về một thành phố mà dùng tới hai tên, vừa tốn bytes vừa tốn sức suy nghĩ nên dùng tên nào cho phải lẽ. Ðến khi nào bạn thôi càu nhàu hoạnh hoẹ chỉ vì một cái vô bổ như là cái tên?) Vì giống Sài Gòn, làm thế nào nó bói ra được một cục tuyết rơi trong thành phố.

Thế là, mỗi năm gần đến những ngày cuối tháng 12, tôi lại chắt lưỡi mơ ước đến một ngày nào đó tôi đang ngồi trong phòng, nhìn ra ngoài tôi thấy tuyết đang rơi.

Cô bạn Sarinka, nghĩa là cô Sarka nho nhỏ, thức tôi dậy lúc gần sáng, “C., tuyết rơi.” Tôi nhỏm dậy, nhìn ra cửa sổ. Vì còn trong trạng thái mơ mơ màng màng, tôi thấy một tí màu trăng trắng nên bảo, “tao không thấy gì cả,” và nằm lăn quay ra ngủ tiếp. Nửa tiếng sau, tôi tỉnh ngủ hẳn khi nghe tiếng chuông từ một nhà thờ Công Giáo La Mã, cách nhà chắc chừng 10 phút đi bộ. Tôi chồm dậy dòm ra cửa sổ. Tôi trố mắt nhìn những căn nhà gỗ trước mặt phủ một lớp tuyết mỏng trên mái, những bụi cây xanh phủ tuyết, và bông tuyết rỉ rả rớt từ trên trời.

Tôi chạy qua phòng bên réo ủm củ tỏi, “Sarka, tuyết rơi.”

Sarka đang ngồi trên giường. Cô ấy cười mỉm chi cọp và nói, “Giáng Sinh đến rồi. Tao hạnh phúc quá!”

Buồn ơi ta khóc thương thân mình. Dấu khăn tang phủ lễ mình…Tuyết không bao giờ ngưng rơi…(*)

Ơ, tại sao ai viết lời gì thê thảm quá. Tuyết vui chứ lị, đâu có buồn hẩm hiu như thế này. Ồ mà tôi lại quên. Ðây chỉ là ngày tuyết đầu tiên tôi ở một thành phố lạ. Lạ nên vui tít mắt. Có thể đâu đó vài ngày tới, không chừng tôi cũng sẽ ngồi nhắm tịt mắt, khóc rưng rức, cầu trời cho tuyết ngừng rơi.

Sarka và tôi nhờ bà chủ nhà chụp hộ một tấm ảnh trước khi cắp tay nhau ra khỏi nhà. Tôi che cái dù cho cô ấy và chúng tôi như hai con nhện đen thui từ đầu tới đuôi, lũi nhũi leo xuống đồi. Sarka quệt một miếng tuyết và bảo, “đây là tuyết ướt nên chắc sẽ không rơi lâu đâu.”

Tôi bỏ Sarka lại một tiệm bánh để cô ta mua bánh ngọt cho bữa ăn sáng. Còn tôi đi tiếp ngẫm nghĩ đến đôi giày ống cao, những chiếc vớ dài qua đầu gối, mấy cái áo măng tô dày, dài phủ mông che cổ tôi sẽ phải mua trong những ngày sắp tới.

(*) Bai hat “Tuyet roi” loi Viet Pham Duy

Hôm qua tôi lò dò leo cầu thang lên nhà ăn trên lầu hai. Giữa chừng, tôi phải đứng lại bởi đằng trước bu một đám đông con nít đang đứng lố nhố chiếm hết bốn phần năm lối đi. Nghĩ tụi nó có tin tức khẩn cấp muốn bàn bạc với bạn bè ngay lập tức nên tôi đứng lại đợi, nhủ thầm tụi này sẽ vãn tuồng sớm và tôi sẽ thong dong bước lên, vả lại tôi không đến nỗi đói meo cẳng teo đến nỗi khuy tay múa chân gạt tụi nhóc ra hai bên xăm xăm hùng hồn đi theo mùi thơm của thức ăn. Mẹ tôi dạy thường xuyên “miếng ăn là cái nghèo nàn” cho nên cái gì chứ đụng đến thức ăn là thỉnh thoảng tôi giữ ý giữ tứ lắm. Nhưng đợi gần mười phút mà chẳng thấy động tịnh gì, tôi bèn khều một con bé tóc tém cũng đang đứng đọi và hỏi nguyên do. Con này nói, “tụi nó đang đợi lấy chuối.” Không tin chắc là mình nghe đúng, tôi hỏi lại một lần nữa, “em nói tụi nó đợi chuối à?” Vừa lúc đó, một con bé tóc dài màu vàng rẽ đám đông bước xuống cầu thang, trong tay cầm ba trái chuối già vàng. Con bé tóc tém bảo, “chuối không phải là trái cây của nước này nên chúng nó thích.” Tôi trợn tròn mắt lăm le đi lên khi lũ chúng nó khều tay nhau nhường tôi một tý chỗ. Sau khi bưới vào cửa chính của nhà ăn, tôi quay đầu sang bên phải nơi cửa hông và bắt gặp hai thùng carton to đựng những nải chuối già, những buồng chuối chín vàng nằm phè ra trong hộp đợi những đứa nhóc thay phiên nhau nhau thò tay vào bốc.

Trời ạ, lúc tôi còn bé, ngày nào tôi cũng bị ép nuốt chuối sứ, chuối già, và chuối tiêu vì nó bổ, “một trái chuối bằng ngàn trái nho,” mẹ tôi nhắc. (Cho đến giờ cũng không biết bà lấy statistics này ở đâu.) Chuối ở Việt Nam rẻ rề nên chúng là khách thường xuyên ở nhà tôi, nằm lăn nằm lóc phủi ruồi trên chạn đến độ đen thui và tôi lén dục để khỏi ăn.

~ * ~
Bữa nọ tôi cười cừời, hỏi cô bạn đeo khăn che kín mái đầu và mặc đồ dài thòng lòng che kín tay chân xem trường học có dạy về sự tiến hoá. Cô ta gật đầu bảo có và bồi tiếp, “chúng tao dạy về sự tiến hóa nhưng chúng tao không tin vào nó mày à!” Ðề cho chắc ăn, tôi hỏi một vài người trông có vẻ Tây phương hóa thì hình như họ cũng có vẻ tin vào loài người tạo ra từThượng Ðế nhiều hơn là sự tiến dần từ những con khỉ.

“Mày nghĩ coi, làm sao mày có thể tin là loài người sinh ra từ những con khỉ?” Cô ta trợn mắt giải thích.

Tôi nhớ có một lần tôi đọc một bản tin về một trường trung học mộ đạo Cơ Ðốc ở bên Mỹ, họ cũng dạy lũ con nít về sự tiến hóa và tạo hóa trong cùng một chương trình. Mặc dù Mỹ tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, cô ấy (*) loại bỏ tôn giáo ra khỏi chính phủ, công sở và trường học, nên dân tình Mỹ phản đối vụ pha trộn tiến hóa-tạo hóa này lắm.

“Khà khà, ai biểu làm con nít là sướng đâu. Thông tin đối nghịch thế, biết đường nào mà rờ rẫm!”

~ * ~

Tôi thuộc loại dân ba-phải-đi-hai-hàng, khi thì xàng xê bên này, khi thì cà khịa bên kia, đây cũng là lý do tôi bầu Kerry bạn ạ. Lập trường của tôi tùy thuộc vào trạng thái tinh thần, tâm thần, thần kinh và mối quan hệ của tôi với con bé ngồi bên phải và thằng cu ngồi bên trái. (*) Chẳng hạn nếu bữa nay tôi bị con bé ngồi trong bán cầu não phải dụ khị thì tôi sẽ làm dấu cầu nguyện chúa Jesu, tóc dài hệt như lãng tử, và ngẫm nghĩ về Thượng Ðế của ngài; cầm nhang rì rầm khấn vái ông Phật Thích Ca tóc quăn tít thò lò và đoán xem ông Phật thờ phượng ông Thượng Ðế nào; và nghi ngờ ngồi đoán mặt mũi của nhà tiên tri Mohamed vói thánh Allah tôi không biết mặt mũi chi hết vì người thờ phụng hai ông này không tin vào sự hiển thị (*) đấng tối cao của họ. Và rồi tôi cau mày, banh trán ôm con bé bên phải để mà nghẫm nghĩ đến những ngày đầu khi trái đất được hình thành, khi con người được nhào năn từ đất sét, được thổi một làn hơi sống vào, và bị đá dăng xuống phía dưới của vườn địa đàng để làm “người với ngợm.”

“Trời xinh ra trước nhất
Trên trái đất trụi trần
Không bóng cây ngọn cỏ
Mặt trời cũng chưa có
Chỉ toàn là bóng đêm
….
Thầy viết chữ thật to
Chuyện loài người trước nhất.”

Nếu mà cô Xuân Quỳnh còn sống và tôi có dịp gặp thì tôi sẽ hỏi xem có phải bài thơ này nói về sự tạo hóa và có phải cô đạo Chúa. Việt Nam, trước sự xâm nhập của Kitô giáo, thờ những ông bà thần và ông Ngọc Hoàng Thượng Ðế là ông to nhất. Sau này, Kitô giáo phát triển mạnh và tôi nghĩ Thượng Ðế Cơ Ðốc của chúa Jê-su ra đời. Với sự quan tâm hời hợt của tôi về tôn giáo, tôi đồng hoá ông Thượng Ðế Ngọc Hoàng với ông Thượng Ðế Cơ Ðốc và trời là nơi ngự trị của thiên đàng.
Bởi vậy khi tôi đọc bài thơ trên:
trời xinh ra trước nhất = thượng đế có mặt đầu tiên
chỉ toàn là bóng đêm = chắc là địa ngục
và rồi những con người.

Những con khỉ tuyệt nhiên không được nhắc nhở trong bài thơ thì tôi đâm nghi nhà thơ quá cố Xuân Quỳnh không tin vào sự tiến hoá mặc dù cô là người Việt Nam.

Và tại sao người Việt Nam phải tin vào sự tiến hóa?

Ðợi tôi tý!

Nghe nói này!
Tôi thuộc thành phần con gái cù lần, bạn ạ, nên từ lúc nhỏ xíu cho đến khi lớn tồng ngồng thành học sinh trung học, tôi với mấy đứa bạn chỉ biết Sở Thú và một vài nơi chán phè khác, dịp rảnh nào cũng rủ nhau vào Sở Thú. Ði sở thú nhiều, suy ra tôi thấy khỉ cũng nhiều, và lần nào cũng thấy chúng nhe răng cười, quậy tưng bừng, và lột chuối ăn. Xem phim ảnh và magazine sau này ở bên Mỹ, tôi lại thấy những con khỉ cười đểu giả bên cạnh mấy trái chuối vàng của chúng. Và tôi suy ra:
=> Khỉ + chuối = Không thể tách rời. (1)

Ở Việt Nam, thiên hạ ăn chuối nhiều vô số kể, chuối tiêu, chuối sứ, chuối già. Ăn trái chuối thôi không đã, họ bèn chế ra món chuối chiên nóng hổi, vừa thổi vừa bỏ miệng cạp. Họ cũng thuộc trường phái dư-đường-nói-nhiều nên chuộng đồ ngọt và họ bày ra món chè chuối nước dừa; mấy bà già bỏ vào cái xoong nhôm to đùng ngồi đầu đường múc bán, cho mấy lũ lâu la ngồi đầu đường múc ăn. Thêm nữa, nước Việt Nam nóng chảy mồ hôi sôi hột lựu nên người Việt Nam có thêm món kem chuối làm bằng cách đập bẹp dẹp những trái chuối mập ú, trét lên đó dừa sợi và đậu phộng băm, xỏ vào những cây tăm dài trước khi ép dẹp chúng vào bịch và bỏ xó chúng vào tủ đông lạnh cho héo úa đời chúng ra. Cũng còn chưa hết, ăn chuối và chế biến sản phẩm chuối đến sập buồng như vậy thôi chưa đủ, người Việt Nam còn cắt lá chuối về gói bánh giò, bánh chưng, bánh ú, bánh gì ôi thôi đủ loại mà tôi ăn thì tôi nhớ chứ tên thì tôi cạch. Nhưng cái tôi ưng nhất là cách họ dùng lá chuối gói xôi mà tôi tha hồ vửa ăn vừa liếm lá. [Ái dà, bây giờ tôi lại nhớ xôi bọc trong lá.]

Bạn thấy đó, có cần đưa ra thêm dẫn chứng để thuyết phúc về sự quan hệ giữa người Việt Nam và con khỉ không?

Người Việt Nam + chuối = Không thể tách rời (2)

(1) & (2) => Người Việt Nam = Khỉ (3)

OR Tập hợi (Người Việt Nam) (- Tập hợp (Khỉ)

Tôi đâu có điêu ngoa gì đâu nè. Người Việt Nam đích thị phát triển từ những con khỉ. [Bạn muốn phản bác lại tôi thì bạn chỉ có cách vận dụng công lực ôn lại lý luận của mấy ông hiền triết Hy Lạp cổ, vạch trần cái lỗ thủng trong lý luận khỉ gió trên của tôi.]

Bàn về những con khỉ, bàn về những ông Thượng Ðế xong tôi xực mình nghĩ đến đất nước Trung Hoa: ôi thôi họ không có tôn ti phép tắc gì cả mặc dù từ ngàn xưa họ tự hào họ là cái rốn của vũ trụ và quảng cáo–một cách thành công—những thuyết về lễ nghi, về đạo làm người, về người quân tử.

Ðạo làm người cái thây ma gì khi:

Người Trung Hoa xa xưa xơi tái nhữngcon khỉ (tổ tiên con nguoi nếu như chúng ta tin vào sự tiến hóa) còn thoi thóp sống, banh đầu lũ vô phúc này ra và khoan thai thò thìa vào xúc óc.

Tại sao họ cần ăn óc khỉ? Lúc tôi còn nhỏ và còn ngu, bà nội và mẹ tôi mỗi tuần chạy ra chợ Cây Quéo mua cho tôi một bịch óc heo vì theo lời cô tôi, “ăn gì bổ nấy, ăn óc bổ óc (cho khôn), ăn gan bổ gan (cho gan dạ), ăn tim bổ tim (cho biết bồ bịch sớm), ăn trứng cá bổ trứng cá (cho mặt mọc đầy mụn trứng cá)…”

Ðể tuyên truyền và củng cố một niềm tin duy nhất, niềm tin vào Cộng Sản, vào người dân Trung Hoa, người Trung Hoa Cộng Sản đầu têu sau này chỉ còn cách là tiêu diệt một niềm tin khác, cao cả và lâu đời hơn: niềm tin tôn giáo. Và như bạn biết đó, chỉ nơi tôn giáo Thượng Ðế tồn tại. Chỉ nơi Thượng Ðế vũ trụ và loài người hình thành (nếu bạn tin vào sự tạo hóa.)

Trừ phi có một thuyết thứ ba nào chực trình bày ở Hàn Lâm Viện và lăm le dành dực giải Nobel thì, có lẽ, bạn và tôi phải tin vào một hay cả hai thuyết nói trên. Nếu muốn đập đầu và xơi tái những con khỉ thì không đập chùa chiền, nhà thờ và xử tử những nhà sư và những người mộ đạo, phỉ báng Thượng Ðế hay ngược lại.

Vì khỉ hay Thượng Ðế hay cả hai dây mơ dãy má liên hệ với nguồn gốc với loài người.

Tôi loay hoay ngồi trên ghế ghỗ con xoay xoay và gõ lọc cọc vào bàn phím máy vi tính một hồi trước khi ôm đống giấy lên quẹt quẹt những cái check bằng mực xanh. Với sự tập trung của một bà hàng bán chè chuối ngồi phủi ruồi, tôi lơ đãng quay ghế một vòng nhìn ra ngoài cửa sổ lúc này tối hù chỉ thấy mờ mờ những cành cây khẳng khi chẳng còn một chút lá và những toà nhà vàng tươi lúc này là những khối đen thui. Tôi thò tay lên thành cửa sổ vơ lấy cuốn kinh Koran bìa màu nâu và lật đại trang chính giữa. Trang bên phải là những dòng chữ bằng tiếng Ả rập ngoằn nghoèo nhìn giống như ai đó viết vội vàng. Trang bên trái, tôi nghĩ, là bàn dịch bằng tiếng B. mà tôi cũng mù không phân biệt ất giáp chi hết, chỉ nhận ra được hai chữ quen thuộc “Ja znam.”

Có nghĩa là “Tôi biết.”

Start Note ****
(*) Ðất nước, tiếng Mỹ, là giống cái nên cố tình dùng từ “cô ấy” để đọc cho vui.
(*) Tôi biết chữ “hiển thị” là tại vì thanhda.com hở chút là xô ra chữ này.
(*) Left-brain/right-brain thinking
**** End note

[Thở dài]Tôi chả biết sao từ ngày tôi ở thành phố này, đi đâu làm gì tôi cứ bị nghĩ ngợi về tôn giáo. Lúc đầu tôi thấy cảnh tụi con nít lãnh chuối vui mắt nên tôi nhất định phải viết lại để nhớ thôi, có ngờ đâu bài viết kéo dài ra thành một mớ lộn xộn như thế này. Hmmm!


“Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời người ơi!…Hò hò ho hó ho ho hò…..”

[Ðợi mọi người lắng đọng chút.]

Thôi đi cha. Ai biết tôi từ lâu thì họ sẽ lật tẩy chân tướng tôi ngay từ câu mở bài. Tinh thần dân tộc của tôi không cao đến độ đó nếu không muốn nói là chẳng có bao nhiêu. Tôi cũng không đa sầu đa cảm, vạch tấm lòng mình ra giữa thanh thiên bạch nhật như thế này.

Siêu nhân, trẻ con năng tài thì Việt Nam mình chỉ có mỗi Thánh Gióng. Bé chút xíu nhưng được bà con cưng chăm bẵm nên lớn cái đùng, nhảy phóc lên con ngựa, náo loạn giang hồ, xơi đẹp quân thù, và sau cùng bỏ chòm xóm phi lên thiên đàng–chắc là lên đó hưởng quà thưởng bên cạnh các tiên nữ yêu kiều.
Bỏ làng bỏ nước bỏ các bác nông dân
Anh Gióng phi lên lấy thiên thần
Vắng bóng siêu nhân từ ngày ấy
Nước làng xôi xục giặc ngoại xâm. (*)

Tôi mà biết nói, không những biết nói suông mà còn biết tấm tắc ca ngợi tiếng Viết, ngay sau khi chui khỏi bụng bự của mẹ tôi thì wow, hai cụ đã đem tôi đi rêu rao khắp làng tổng từ ngày ấy rồi, khoe sinh con thần đồng, và giờ đây tiếng tai tôi đã nẩy lừng trong lịch sự cận đại Việt Nam chứ chả giỡn.

Nhưng mà xí.

Xí!

Thần đồng thâm thúy về ngôn ngữ kiểu này thì Việt Nam mình có thừa, hoàn toàn không có sự phóng đại. Không chỉ thông thạo ngôn ngữ mà những mầm non này còn am hiểu tinh thông về tình hình lịch sự chính trị nữa kia. Chứng minh nè:
"Thương biết mấy khi con tập nói
Tiếng đầu lòng con gọi bác Stalin."

U chu choa mèn đéc ơi! Con mới tập nói con đã biết gọi bác Liên Xô xa lắc xa lơ Stalin rồi thì bảo đảm khi con mới chập chững biết đi, con chui ngay ra khỏi cửa, bỏ nhà con làm cách mạng, con cứu lấy giống nòi. Mà cũng kỳ cục quá. Siêu nhân thần đồng đầy dẫy ra đó mà sao đất nước nghoe nguẩy đầu mãi cũng chả ngóc lên được. Ôi, thật là uổng phí những con người siêu việt, cho những em bé nhi đồng.

Nãy giờ nói vòng nói xuôi bây giờ tôi xin nói thiệt. Chẳng qua sau khi ăn một đĩa pasta xào hời hợt với ba lát xúc xích bò tôi xiên qua cái thìa gỗ và hơ trực tiếp trên lửa từ bếp ga tôi ngồi đọc sơ qua bài học dạy tiếng X. Ðọc mấy phần trên, tôi gật gù, “coi bộ cũng dễ nuốt.” Nhưng đến khi tôi rề rề con chuột điện tử xuống phần dưới, tôi thấy họ chia trạng từ, danh từ, động từ chục cách và những cái table to đùng chia cách như những ma trận toán, thì tôi:

“Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời người ơi!…Hò hò ho hó ho ho hò…”

[Lúc này thì tôi yêu tiếng tôi thiệt.]

Mấy hổm rày tôi bị ho, ho sù sụ gần long cuống phổi. Con nhỏ bạn ở cùng nhà nó trợn mắt dòm tôi, “mày làm tao ghê quá. Tao chưa bao giờ thấy ai ho ôm bụng bao giờ.”

Chứ còn gì nữa. Ðất nước này lạnh toi cẳng. Vi trùng lăn quay ra chết hết thì ai bệnh gì.

Tuần trước, tôi nói chuyện với cô bạn đồng nghiệp tiếng được tiếng mất. Tôi phàn nàn: “Tao bị gió lùa chui vô cổ họng cộng với phải mở miệng la hét gào thét mỗi ngày nên bây giờ tắc tiếng luôn. Mày biết rồi đó, giọng của tao bình thường rất nhỏ.”

Tôi có một giọng nói oanh vàng thỏ thẻ,
êm mượt như nhung.
Chỉ có điều đừng làm tôi nổi giận vì tôi tức khắc nổi khùng
Và tôi hung, chả trách.

Xong tôi giỡn chơi với cô ta khoe giọng khò khè khản đục của tôi bấy giờ khi hát sẽ rất sexy. Và bị cô ta dụ, tôi giựt cái khăn quấn trên cổ đứng ngay dậy, ẻo qua ẻo lại hò bài “Lý con quạ” bằng giọng Nam đặc sệt:

Kiu cái mà wạ kiu wạ wạ (2). Wạ kiu [ơ] nam [ám] đáo, bắt đáo mà ngự [ự] phòng. Ngừa dưng [mà] khác[ác] họ, chẳng ngọ thời kia [ía ia]. Mai dzìa rồi mới [ới] ngỏ [ỏ ỏ]. Bàng ngày thì mắc [ắc] cở [ơ ở]. Tối ửa wên dzìa. Rằng a ới a ra dzìa, rằng thương nhớ thương(2).

Ðược hứng, hát xong tôi nói tiếp “Giờ mày nghe cho kỹ nghe. Bây giờ tao hát một bài dân ca của một làng ở miền Bắc, nổi tiếng vì giòng nhạc này.” Cô bạn tôi, đứng đối diện, quấn khăn, quấn quần aó kín mít từ đầu tới chân, chỉ chừa cái mặt, dòm tôi cười:

Bèo èo èo zạt mây ừ ừ chôi chốn xa xôi anh ơi….em vẫn đợi ứ ư bèo zạt…Thương nhớ ờ ơ ai xa a xôi…



Ngồi tựa ới a mạn thuyền…ngồi zằng là ngối tựa ới a có mấy mà a a a a ới hỡi mạn thuyền rằng ngồi tựa ới a cái mạn thuyền. .

Trời ơi, điều thần kỳ đã xảy ra. Tôi hò xong ba khúc hát này, tiếng tôi hết tắc bình thường ra trở lại. Chắc là ông trời không muốn tôi khoe giọng hát “sexy” nữa.

Bây giờ tôi phải chấm dứt ở đây vì tôi phải ngậm đắng nuốt cay, ôm nỗi yêu kinh khủng về sự giản dị của “tiếng nước tôi” vào lòng, để mà dùi mài ngôn ngữ khỉ gió chia-gì-mà-tới-chục-cách đặng vài ba hôm tôi có thể xí xa xí xô với họ cũng giống như là tôi đang tòe loe toét loét với bạn vậy.

dlakme


(*) Nhái bài thơ “Cô lái đò” của Nguyễn Bính. Bỏ thuyền bỏ bến bỏ lòng sông. Cô lái đò kia đi lấy chồng. Vắng bóng cô em từ dạo ấy. [Quên béng]

Ở thành phố S.
12/01/2005