Monthly Archives: Tháng Một 2006


Văn hóa cà phê
Sau buổi hẹn với một phóng viên của tạp chí Azra ở quán cà phê Wiener, Saija và tôi mất gần một tiếng đồng hồ ngược xuôi nơi trung tâm thành phố tìm một quán cà phê khác có ổ điện dành cho khách để tôi dùng máy vi tính xách tay. Người Sarajevo uống cà phê như người Prague (thủ đô Tiệp Khắc) uống bia, như người Sài Gòn ngủm chè, hay như người Mỹ tu nưóc ngọt. Hẹn hò nơi quán cà phê sau giờ làm việc là một thú vui, một truyền thống không thể thiếu của lớp trẻ cũng như lớp già. Không như ở Mỹ, học sinh, sinh viên, công nhân túa vào những quán cà phê để đọc một cuốn sách mới ra lò, một mẩu tin trên báo nóng hổi, để làm nốt một bài tập; những cô cậu neo-nerd đua nhau trèo lên mạng qua hệ thống Wi-Fi network, thú giải trí đặc trưng của những thành phố thế kỷ 21 hiện đại chẳng hạn như Thung Lũng Hoa Vàng (Sillicon Valley) và Thành Phố Mưa (Seattle). Ở Sarajevo, quán cà phê đưọc dựng lên chỉ để cung cấp một không khí thoải cho những người khách ngồi trò truyện và nhâm nhi ly cà phê.

“Họ sẽ nhìn mày như là một con quái vật nếu họ thấy mày lôi cái laptop của mày ra.” Merima, một người bạn địa phương của tôi, nói. “Ở đây, người ta vào quán cà phê để nghỉ ngơi sau giờ làm việc.”

Người Hồi Giáo tự hào về truyền thống “biết cách nghỉ ngơi và thưởng thức cuộc sống” của họ. Không cần gì nhiều, đôi lúc chỉ là những chung cà phê nhỏ xíu. Ðêm trước ngày tôi rời Zagreb, thủ đô Croatia, một người bạn nói với tôi, “Tao ước gì tao được thế chỗ cho mày qua bển. Tao rất ngưỡng mộ cuộc sống của người Hồi Giáo nơi đó.”

Tìm ổ cắm điện
Tất cả những quán cà phê mà chúng tôi ghé vào, từ những ngõ hẻm nơi phố cổ cho đến con đường chính Ferhadija nơi phố mới đều chặt cứng người, đa số là giới trẻ. Ví dụ họ có ổ cắm điện đi chăng nữa tôi chắc cũng không vào vì thiếu privacy. Biết Saìjda muốn gặp anh bạn trai của cô ấy nên tôi hứa lèo, “mày đi với tao thêm 15 phút nữa, nếu không tìm được thì tao sẽ đá đít mày về nhà.” Chúng tôi lội bộ về hướng nhà thờ Công Giáo, quẹo trái ra con đường đằng sau trolley chạy. Ði mới được hai phút trên con đường treo lủng lẳng thịt và lúc nhúc những người bán quần áo rong, Saijda kéo tay tôi vào trong một mái che bên lề đường. Tưởng là cô ấy muốn mua một thứ gì đó tôi để yên không hỏi han gì cả. Một người đàn ông đi sau lưng chúng tôi ban nãy lướt qua, bàn tán bằng tiếng địa phương với cô ta và bập bẹ những chữ tiếng Anh với tôi. Thế là cô ta lôi ngược tôi về lại hướng trung tâm thành phố. Hóa ra, lúc nãy đi đằng sau chúng tôi là hai thằng móc túi mặt mốc đã từng bị đưa lên báo. Người đàn ông thấy vậy bảo Saijda né cho tụi nó đi qua và dặn tôi coi chừng cái túi. Chúng tôi đi ra đường ngoài đối diện faculty Kinh Tế và nhà thờ Chính Thống Giáo Serbian màu vàng nghệ độ sộ. Dòm trước ngó lui dọc suốt con đường không tìm được quán cà phê nào vừa ý, tôi lại kéo Saijda theo hướng phố cổ trong khi thận trọng né tránh những đống gạch vụn từ những công trình đang xây dở và những trũng nước đọng trên mặt đất sau khi tuyết tan. Dọc đường, để thử đôi dày ống cao đến tận đầu gối tôi mới mua ngày hôm qua, tôi đạp bành bạch không câu nệ vào một trũng nước. Khi thấy vớ và chân không bị ướt, tôi sung sướng mê ly.

Moríca Han
Khi vào đến trong khu phố cổ, tôi sực nhớ đến một nơi tôi tình cờ phát hiện tối hôm qua khi tôi lang thang dạo phố. Cũng như mọi lần, tôi bước chậm như rù trên con đường lót sỏi, dòm ngó hai bên cốt là để tìm ra một gì điều gì là lạ và mơi mới. Khi tôi bước qua một lối vào thâm thấp hình parabol với phương trình y=-x2(*), thì tò mò tôi chui vào. Tôi không nhớ chính xác cảm giác lúc bấy giờ, nhưng chắc chắn tôi đã nghĩ thầm với mình rằng “ồ, tôi đang đứng trong một giấc mơ.” Những ánh đèn vàng mờ mờ ảo ảo hắt lên những tấm thảm đỏ phương Ðông (Ba Tư hay Thổ) treo lủng lẳng. Vọng ra từ một quán cà phê bé xíu nằm trong góc đối diện sạp bán thảm là những nốt nhạc cổ truyền với giọng nam ca sĩ rên rỉ, ỉ ôi, loại nhạc lắc lư uốn éo từa tựa nhạc truyền thống Thổ, Ả Rập, và Ba Tư (*). Tôi đứng giữa sân cạnh khúc cây trơ trụi, cầm bịch ny lon đựng đôi giày mới mua và để cho thính giác, thị giác quay vòng.

Nơi tôi đang đứng là Moríca Han, xây cuối thế kỷ 16 khi Bosnia và Herzegovina nằm dưới sự cai trị của đế quốc Thổ Ottomen, là một trong chục cái han, điểm tá túc của những đoàn ngưòi bán buôn từ Ðông, Tây đến Sarajevo.

Tôi đẩy Saijda vào quán cà phê bé xíu cầu may. Khi tôi nhìn thấy ba bốn ổ cắm điện không ai sử dụng trên tường, tôi quan sang cười toe toét, “mày thấy chưa.” Chúng tôi bước vào gian trong, sặc sục mùi khói thuốc lá từ chiếc bàn dài kê sát tường đầy nhóc đàn ông đang tranh cãi om sòm. Tôi ngồi xuống order nhưng vẫn e dè nhìn qua đám đàn ông kế bên. Tôi đã đi khỏi Sài Gòn khá lâu nhưng ngồi trong tiệm cà phê này, tôi bị ảnh hưởng bởi những thói quen trong suy nghĩ của một người Sài Gòn chưa bao giờ được dịp đi tiệm cà phê và cũng không bao giờ nghĩ đến chuyện thò chân vô những chỗ “đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn tỏ” này vì Sài Gòn ngày trước đầy dẫy những nơi, không riêng quán cà phê, chỉ dành riêng cho phe “mày râu nhẵn nhụi.” Con gái đàn bà mà thò chân vào những chỗ này sẽ bị dòm với cặp mắt lạ kì soi mói. “Mày có chắc là chỗ này cho phụ nữ.” Tôi hỏi đi hỏi lại. Saijda trấn an tôi và tôi an tâm ngồi lại mặc dù lâu lâu tôi lại liếc nhìn những người đàn ông chung quanh tôi và bức tường khắc đầy chữ Ả rập [Leo vào hang ổ đầy Hồi.] chung quanh họ.

Khoảng 10 phút sau, thằng bé học trò tôi quen và đứa em trai của nó lố nhố đứng theo bố vào quán, đứng cạnh chiếc bàn dài đầy đàn ông tôi miêu tả lúc nãy. Tôi ngoắc hai thằng nhhỏ lại bàn tôi. Thằng anh ngày thường quậy tưng và nhiều chuyện hơn khỉ nhưng bữa nó đúng khép nép khoanh tay, “tại vì bữa nay có bố.” Sau một vài mẩu đối thoại qua lại, tôi vỡ lẽ ra là những người đàn ông ở chiếc bàn dài có thói quen hẹn nhau vào đây uống cà phê khi họ xong việc cầu nguyện mỗi thứ sáu ở một cái mosque lớn gần đó. (*)

It’s nothing to be feared. It’s merely to be understood.
- Marie Curie

Những sự sợ hãi cũng như những quan điểm thành kiến của chúng ta phần lớn vô căn cứ và chỉ dựa vào sự suy nghĩ hạn hẹp bên trong, những suy nghĩ vô tình hay cố ý reo rắc từ bên ngoài. Ðặt trong trường hợp tôi, người Việt Nam da vàng 100% trừ khoảng thời gian tóc tôi vàng khè và đỏ ké (okay không đến nỗi vàng đỏ như vậy), tôi gặp và tiếp xúc bao nhiêu mống Hồi Giáo trên cuộc đời ô trọc của tôi: chắc chắn đếm trên đầu ngón tay. Thế nhưng, tôi có bao nhiêu “kiến thức” về người Hồi Giáo và đạo của họ: bầm dập tế bào não tôi. Thống kê không con số này nói lên điều gì? Nó nói: “Chúng ta đang sống ở thời đại thông tin với coupons mua báo tháng và máy truyền hình trả góp hà rầm.” Chúng ta biết rõ hơn ai hết về sự xuyên tạc thông tin, dù gì thì chúng ta cũng là dân Châu Á, mặc dù sự xuyên tạc bằng phương tiện thông tin phổ biến từ thời xưa và không chỉ giới hạn đến dân Châu Á hay những đất nước còn theo chế độ toàn trị.

Thằng bé em rụt rè hỏi tôi đủ điều: tại sao tôi đến đất nưóc của nó vì đất nước nó bé tí teo, tôi có biết gì về đất nước của nó,…

Khối Nam Tư
Câu hỏi thứ hai của thằng nhóc em cũng là câu hỏi đặt ra từ nhiều người. Khi trả lời, tôi luôn bắt đầu như thế này: “A hèm…vào mùa cúp bóng đá thế giới năm 1990, đội bóng Nam Tư của khu vực này động đình động đám…”
Có bốn điểm làm tôi nhớ về đội bóng này:
• Họ quậy tưng và cho chầu rìa nhiều đội bóng đàn anh.
• Tập hợp những chàng cầu thủ…hơi xinh (điều này rất quan trọng trong bộ môn bóng đá :->)
• Họ có tên khá dài, Yugoslavia, so với trí nhớ tên của người Việt Nam, và tôi cứ nhầm luôn luôn với một tên cũng không phải là ngắn, Czechoslovakia, tức Tiệp Khắc.
• Tôi nghe lỏm trên TV lúc bấy giờ xầm xì về những sự lộn xộn xảy ra ở khu vực này.

Nhưng bốn năm sau đó, mùa cúp bóng đá thế giới 1994, thì cả hai bọn này, cùng với một chục đội bóng Châu Âu, đổi tên. Tên Yugoslavia và Czechoslovakia không còn nữa và được thay bởi Croatia và Czech mặc dù nhiều người Việt Nam, trong đó có tôi, theo thói quen, vẫn gọi họ là Nam Tư và Tiệp Khắc. Thỉnh thoảng chú út tôi bảo, “Mày đừng gọi Nam Tư nữa, đất nước đó sụp đổ rồi.” Tôi nghe và cảm thấy rất lạ.

Mười năm trước, bên nửa kia trái đất, tình hình chính trị trong đất nước của những người Tây mắt xanh, tóc vàng, mũi khoằm đâu có ảnh hưởng và can dự gì đến tôi và, không chỉ có tôi, triệu người Việt Nam hay Châu Á khác. Sự sụp đổ và xác nhập lại của họ, như bóng đá, là một loại tin tức tiêu khiển TV phát hình mỗi tối. Những “trò” dư đường trên sẽ không can hệ gì đến tôi nếu như tôi coi tôi là một cá nhân độc lập trong một quốc gia, một châu tồn tại độc lập và tôi chỉ đứng mãi trong cái gọi là “phạm vi độc lập” ấy. Nhưng dần dà tôi nghiệm ra rằng nếu tôi đứng mãi trong cái ô vuông “độc lập” đó của tôi, thì không chóng thì chày, tôi cũng…sập.

Nam Tư sập!

“Nam Tư sụp” là một câu ba chữ trong một mầu tin độc giả chóng quên khi đọc xong mục chính trị thế giới ba que. “Nam Tư sụp” là một câu nói ngắn từ môi của cô phóng viên đài truyền hình Việt Nam trong một bản tin dài chưa tới mười phút. “Nam Tư sụp” là một trong những mớ tin tức rối lòng bong chúng ta bỏ vào tai này chui qua tai khác để tránh tình trạng input overload. Bởi thế Nam Tư sụp, có chăng, chỉ là một sự kiện vọn vẹn của một vài phút giây. Nhưng nếu chúng muốn hiểu thêm về lịch sự, truyền, thống, văn hóa thuộc mô hình xã hội lớn và suy nghĩ, hành động thuộc mô hình cá nhân nhỏ và, quan trong hơn, muốn ăn hôi đặt mình vào trong kinh nghiệm của họ thì chúng ta hãy thử thay thế vế câu “Nam Tư sụp” với

“Sài Gòn đổ!”

Tôi nói thế thôi chớ Sài Gòn vỡ đổ ra làm sao, tôi biết gì mà tà le?

Trận bóng đá
Cũng như hàng triệu người Việt Nam khác: con nít, người lớn, người già sinh sôi, lớn lên, phát triển với và đón mừng những mùa cúp bóng đá, như nhà văn Phạm Thị Hoài đã ẩn ý đề cập trong mẩu truyện ngắn “Bao giờ cho đến bốn năm sau”. Tôi đánh cuộc lần đầu tiên bằng cách cá độ với bác trận bóng đá Ý-Pháp, mở đầu mùa cúp bóng đá Mê-hi-cô 1986. Tôi biết cóc gì về bóng đá lúc đó chỉ xem hình thấy đội Pháp có “thằng” đội trưởng tóc xù ngang vai như con gái tên Platini cười mỉm chi trông rất xinh (tôi đã nói yếu tố xinh là quan trọng nhất) nên bắt Pháp ngay lập tức không cần cù cưa oong đơ ráo trọi. Chạy về nhà hí hửng kheo với bố, chưa kịp kề đầu đuôi thì bị cụt hứng.
“Con này ngu quá mày!” Bố tôi quay sang nói với chú út. “Nó bắt đội Pháp mày ạ!”
“Mày đáng lẽ nên hỏi bố hay chú rồi tụi tao sẽ nói cho mày nghe đội nào nên chọn.” Chú tôi phân trần. “Rồi bả có chấp mày trái nào không?”
Khi tôi lắc đầu không thì bố tôi và chú tôi thốt lên: “Trời, nó ngu nữa. Bả biết mày không biết nên bả lừa mày rồi.” Hai ông thần bóng đá nhà tôi rên xiết bỏ đi không tin được con ranh nhà họ làm trò ngu ngốc thế.
Theo lời họ thì Ý lúc đó đang là đội mạnh. Pháp mặc dù có tiếng tăm trong làng bóng đá thế giới nhưng đang xuống dốc thảm thương. Nghe tường trình xong xuôi tôi chợt hiểu ra nụ cuời đắc thắng trên khuôn mặt của bác tôi, bà bà chắc mẩm phen này bả nắm phần thắng trong tay.

Sự khôn ngoan ngàn đời (conventional wisdom) dạy chúng ta phải nghiên cứu kỹ lưỡng trước khi chúng ta bắt đầu một kế hoạch làm ăn hay chỉ một kế hoạch đời thường và giảng mo-ran chúng ta rằng sự già dặn của người lớn bao giờ cũng lợi thế hơn sự khờ khạo của trê con.

Tôi đồng ý.
Nhưng!

Tôi cầm trong tay sau đó một món tiền đủ mua hai tô hủ tíu bò viên, số tiền cá độ bác tôi phải chi khi tỉ số trận bóng đá giữa Pháp và Ý là 1-0. Nếu như tôi google (ví dụ ngày đó có google) năng lực hai đội hoặc nghe theo lời bậc tiên-sinh, tức hai ông thần bóng đá nhà tôi, thì tôi sẽ thua trắng bụng—bị đói hai tô hủ tíu.

Nhiều lúc chúng ta không cần phải biết tất. Sự khờ khạo đôi khi lại là một ưu điểm vì kiến thức và kinh nghiệm dẫn đến nghi ngờ về năng lực bản thân. Hãy nhìn vào con nít. Chúng “ngu” nhất trong tất cả các loại người, thế nhưng khi chúng thích gì là cắm cổ cắm đít chạy tót đi làm việc ấy ngay lập tức. Chúng chỉ dừng lại khi bị các bậc “người già” không ngoan, tức chúng ta, nẹt, “mày không được làm nghe mày.”

Tuy nhiên tôi không gán sự khờ khạo của trẻ con và sự may mắn của người mới-ra-cuộc (beginner luck) vào sự thắng độ bóng đá của tôi. Có một yếu tố khác nặng ký hơn: bản chất trận bóng đá. Dân bóng đá vẫn thường nói rằng không chắc được điều gì khi trái bóng bắt đầu lăn. Khi bóng bắt đầu lăn, Ý mất đi sự áp đảo như lời dự đoán ban đầu.

Trong cuộc chơi bóng đá, muốn dự đoán hết mọi đường bóng, vị trí và góc cạnh nơi trái bóng sẽ rơi thật khó nếu như không tưởng. Sẽ luôn luôn có một đường bóng bất ngờ mà không một sự nghiên cứ nào có thể dự đoán cho nó. Ðường bóng này có thể dẫn tới một trái banh chết hay tới một cú gôn tuyệt cú mèo, tùy theo anh/chị cầu thủ đang đứng ở chỗ nào trên sân banh và họ làm gì với trái banh đó.

Giả sự cuộc đời là môn đá bóng, những tình huống là những trận banh, những thất bại là những đường banh chết, và những thành tựu giản đơn hay lớn lao là những trái gôn. Trong môn đá bóng không phải trên sân banh này, chúng ta không phải chầu chực đến “bốn năm sau” để chào mừng một sự kiện lớn, cúp bóng đá thế giới chẳng hạn. Thay vì dòm ngó dân chuyên nghiệp chơi đá bóng, chúng ta thây kệ lụm đâu trái bóng và chạy tới chạy lui chơi nó đại.

Tôi đã nhận một đường bóng bất ngờ như vậy và, cũng mất một khoảng thời gian khá lâu, tôi mới khều nhẹ nó
“Vào!” (*)

dlakme, first written 11/200

Notes
(*)Tôi không biết chữ tiếng Việt tả hình đó. “Vòng cung, mái vòm…”?
(*)Ðàn ông, theo tục lễ, đi mosque cầu nguyện vào ngày thứ sáu.
(*)Người ta không dùng từ Nam Tư nữa ngoại trừ những người lớn tuổi dùng theo thói quen. Nếu bạn dùng Yugoslavia vào thời điểm này, người ta hoặc hiểu bạn ám chỉ tên cũ của vùng hoặc cho là bạn nói về Serbia-Montegnero cộng hai vùng tự trị Kosovo và Vojvodina . Thành phần ly khai (thành công) gồm Slovenia, Croatia, Bosnia và Herzegovina, và Macedonia. Một trong những lý do họ muốn tách ra vì Serbia chiếm nhiều ưu đãi và ảnh hưởng quyền lực nhiều hơn dựa trên danh nghĩ nguyên khối Nam Tư. Viện trợ từ nước ngoài vào Nam Tư chủ yếu đổ về Belgrade, thủ đô Serbia. Quân đội Yugoslavia, mạnh thứ 4 ở Châu Âu, trụ sợ trung ương nằm vùng ở Belgrade. Serbia muốn duy trì khối Nam Tư và áp đặt rules và policy của mình. Vì thế, Seribia ngăn chặn và tuyên chiến với những ai muốn tách rời khỏi khối này. Serbia không còn đánh lộn với bốn nước kể trên nhưng vẫn còn lộn xộn ở Kosovo.
(*) Khi cầu thủ ghi bàn, mấy ông bình luận bóng đá la rầm rầm “vào,” “vào rồi thưa các bạn.”


Ngày đầu tiên

Tôi đến thành phố thủ đô Sarajevo vào ngày 4 tháng 11 sau khi nấn ná lại Zagreb thêm hai ngày thể theo lời yêu cầu của Nedjad, “mày có thể đến sớm hay trễ hơn không vì đây là ngày lễ lớn, công sở không ai làm việc.”

Ðón tôi ở trạm xe bus là Nedjad, người mà tôi trao đổi tin tức trong mấy tháng vừa qua, và Berina, cô bạn sinh viên đồng nghiệp của anh chàng. Tôi giật mình khi thấy họ ngoắc một chiếc taxi đang đợi khách ở bãi xe vì theo kinh nghiệm ở Mỹ lẫn Việt Nam, dân tài xế taxi chém đẹp, giá cả bay lên tới trời. Sau này vì có việc cần phải dùng taxi nên tôi hỏi thăm dò giá cộ đi taxi thì tôi chưng hửng vì nó rẻ như bèo. Khứ hồi từ nhà đến trạm xe buýt khoảng 30 phút hơn, tôi chỉ trả có khoảng chừng 5 đô la, nhưng tại lần đó tôi may gặp một ông già lái xe chân chính.)

Theo thói quen, vừa đặt bàn tọa xuống xe là tôi đưa tay chộp lấy seatbelt để cài. Chưa kịp làm gì thì Berina đã với lấy tay tôi, “mày không cần.” “Ơ, nhưng tao phải đeo seatbelt vào cho an toàn.” Tôi nói trả. “Ðã nói là mày không cần mà.” Berina khăng khăng. Thế là, nể lời, tôi bỏ seatbelt xuống và chăm chú nhìn ngó xe cộ chung quanh. Chiếc taxi chạy bạt mạng (xe cộ bên đây hầu hết chạy bạt mạng và chẳng nể nang ai cả) chở chúng tôi dọc theo chiều dài thành phố trước khi quẹo vào một con hẻm chỉ vừa đủ chỗ cho chiếc xe đậu. Ba chúng tôi lui cui bước ra, đeo ba lô, kéo vali leo lên con dốc đá để đi vào một ngôi nhà tươm tất với khoảng sân trước khá rộng. Ra tiếp chúng tôi là một người đàn bà xấp xỉ 40 và 50, tươi cười chào và bập bè những chữ tiếng Anh cơ bản. Sau nửa tiếng nhìn ngó căn phòng, tôi vất đồ đạc vào một xó và theo Nedjad và Berina lội xuống đồi dạo phố.

Một chút tôn giáo và chính trị
Thì ra tôi đặt chân đến thành phố này vào đúng lúc họ bắt đầu lễ Bajram thứ nhất, kéo dài bốn ngày để kết thúc tháng nhịn ăn Ramadan của họ. Theo đức tin của người Hồi Giáo, tháng Ramadan đánh dấu sự kiện Allah xuất hiện và trao scripture và trao Qu’ran cho tiên tri Muhammad. Vào tháng nhịn ăn (29 hoặc 30 ngày), họ thức dậy trước khi mặt trời mọc, làm lễ và ăn một bữa dằn bụng. Khi mặt trời mọc cho đến khi mặt trời lặn, tuyệt nhiên họ không được phép ăn và uống gì. Ngoài ra họ có một vài điều cấm kị mà tôi biết là phụ nữ trung tuần kinh nguyệt không được phép ăn chay và đàn ông không được phép ôn hôn phụ nữ.
Nếu bạn muốn biết sự quan trong của tháng Ramadan và hai lễ Bajram thì bạn hãy liên tưởng đến ngày lễ Giáng Sinh và Phục Sinh của người Cơ Ðốc.

Tôi có thói quen của một người mong đơi và hưởng (ăn theo) không khí Giáng Sinh từ bé dù đó chỉ là truyền thống chứ không phải là tôn giáo nên lâu lâu quên tôi buột miệng, “Ở đây tụi bay đón Giáng Sinh như thế nào?” Và người đối diện cười mỉm chi với tôi, “chúng tao không mừng ngày lễ Giáng Sinh mày a!” Tôi bị tổ trác như thế đến mấy lần. Một lần khác tôi đứng trước một đám học sinh trung học và bô hô cái mồm, “Khi nào tụi bay được nghỉ lễ Giáng Sinh?” Chúng nó đua nhau gào, “chúng em không được nghỉ vào ngày Giáng Sinh!” Một lần nữa, tôi hỏi một con bé xem nó có đi nhà thờ (church) hay không. Khi tôi thấy con bạn của nó nhe răng cười là tôi biết mình nói hớ; lẽ ra tôi phải nói mosque. Rồi thêm cái trò tôi gọi cuốn kinh Kuran của họ là Bible.

Ðất nước này có ba tôn giáo chính: Hồi Giáo Sunni, Chính Thống Giáo (Phưong Ðông) Serbia, và Công Giáo đại diện bởi ba sắc dân khác nhau, Bosniak, Bosnian Serbs (Serbians), và Bosnian Croats (Croatians), mặc dù ngàn năm trước họ cùng là một giống dân, người Slav. (Nói về chính trị, tôn giáo, sắc dân … của đất nước này thì gay go bởi vì nó là một mớ lộn xộn và khó hiểu cho nên tôi chỉ nói sơ sơ và để dành vào một mục khác.) Hơn mười năm trước, ở Sarajevo, tỉ lệ số dân đại diện cho ba tôn giáo này khá đồng đều với 44% Hồi Giáo, 32% Chính Thống Giáo, 17% Công Giáo, 7% còn lại là Do Thái và các đạo nhỏ khác. Tuy nhiên cuộc chiến tranh vùng Balkans 1992-1995 đã làm chênh lệch hẳn cán cân, với Hồi Giáo chiếm 90% ở thủ đô Sarajevo. Nếu tôi có dịp, tôi sẽ kể thêm một chút về cuộc chiến tranh và bạn cũng có thể truy tìm trên mạng cho những tin tức này. Ðể đơn giản hóa vấn đề, tôi giải thích đại loại sau đây:

• Serbia-Montegnegro dưới sự lãnh đạo của Slobodan (“soloban” có nghĩa là “freedom” có nực cười không hả) Milosevic xui và yểm trợ Bosnian Serbs (người Serbian ở Bosnia) nổi dậy gây chiến với người Bosniaks, tức người Hồi Giáo ở Bosnia.
• Người Bosniak liên minh với người Công Giáo Bosnian Croats, yểm trợ bởi chính phủ Croatian để chống lại người Serbs (cả Bosnian Serbs và Serbians).
• Rồi người Croats (cả Bosnian Croats and Croatians) quay qua liên minh vời Serbs nhằm mục đích cưa đôi đất nước Bosnia và Herzegovina để tạo nên Ðại Croatia (Greater Croatia) và Ðại Serbia (Greater Serbia), trục xuất hoặc là giết những người Bosniaks.
• Người Serbs bao vây Sarajevo trong ba năm, ngăn chặn tiếp tế từ bên ngoài.
• Liên Hợp Quốc và NATO trở thành những tổ chức bù nhìn, thiếu hiệu lực, và vô trách nhiệm trong cuộc chiến tranh này.
• Serbs diệt chủng 8000 đàn ông và con trai Bosniak ở làng Srebrenica, dưới sự bảo vệ của NATO.
• Dayton Peace accord cắt 49% Bosnia-Herzegovnia cho Bosnian Serbs (Cộng Hoà Serbia) và 51% cho liên minh Bosnian Croats và Bosniaks (Liên Bang Bosnia và Herzegovina) với phần lớn Bosniaks ở Bosnia và phần lớn Bosnian Croats ở Herzegovina.

Ði ăn lễ
Hôm qua cô bạn Azra mời tôi lại nhà ăn lễ Bajram lần thứ hai (lễ cúng tế), sau lễ một 75 ngày. Azra chỉ tôi đón xe trolley bus 103, chạy 15 stop đến khi thấy một cái mosque lớn thì chui ra. “Mày ngồi đếm stop nhe, đếm đến 13 thì gọi tao và tao sẽ chạy ra đón.” Tôi răm rắp nghe theo. Trên xe bus, tôi ngồi cúi đầu đọc sách, và dựa vào những lần xe bus khựng lại, tôi xòe ra một ngón tay. Azra gọi tôi khi bàn tay trái tôi chìa ra ba ngón nên tôi nói, “mày yên tâm tao đang đếm, mới đến trạm thứ tám à.” “Okay, tốt, nhớ là kêu tao khi mày đến trạm thứ 13.” Xe chạy khoảng hai stop nữa thì tôi thấy một mosque lớn với hai tháp màu xanh lá cây chỉa lên trời bên tay phải—ờ mà tháp nào chả chỉa lên trời— tôi quýnh quáng chìa tờ giấy ghi tên mosque hỏi những người xung quanh và dục ào đồ đạc vào trong giỏ, nhảy ra khỏi xe. Hoặc là tôi xe bus khựng không đúng lần hoặc là ngón tay tôi chìa ra xong lại chìa vô vì lạnh làm tôi đếm hụt.

Azra, với bộ quần áo rộng thùng thình, chạy như con chim ra đón tôi. Chúng tôi đi dọc theo con đường bên cạnh mosque trước khi băng qua đường bên kia để đi vào một khu apartment complex, nơi Azra và chồng cô ta ở. Tôi chỉ vào những bức tường lủng đầy lỗ hỏi, “Trên xe bus đi tới Mostar, sau khi ra khỏi trung tâm thành phố một chút, J., tao, và một ông người Anh thấy quá trời tường lủng lỗ như vầy. Tụi tao ngồi đóan những cái lỗ đó là vết đạn. Tao phải hỏi lại mày cho chắc chứ nhiều khi những cái lỗ chỉ do sự xuống cấp lâu ngày.”

Những vết đạn và bài học địa lý
“Ừ, nhưng mà không phải vết đạn đâu mày, viên đạn nhỏ xíu đâu để laị dấu vết rõ ràng như vậy. Ðó là vết missiles.” Azra trả lời.
“Nhưng mà tao đọc thấy là tụi Serbs núp ở trên núi và bắn tỉa xuống thành phố mà? Ở đây buildings toàn nằm ngoài tầm ngắm từ trên núi.” Tôi hỏi tiếp.
“Nhưng mà tụi nó cũng có lúc tràn xuống thành phố chứ.”
“Khi chiến tranh mày cảm thấy như thế nào?”
“Lúc đó tao ở Ðức. Hơn nữa tao không phải là dân Sarajevo, gia đình tao ở một thành phố nhỏ khác.”
“Những người ở lại vì lý do gì? Tại sao họ không đi tị nạn như những người khác? Có phải là họ không có khả năng?”
“Ừ, mà nè, Sarajevo bị siết chặt. Tụi Serbs bao vây cứng ngắc toàn thành phố, không có lối ra.”

Thành phố Sarajevo bị núi chặn ở hai đầu Nam và Bắc. Ðường giao thông chính chạy theo chiều dài Ðông-Tây, Tây-Ðông. Hơn nữa Sarajevo là thành phố nhỏ và hẹp nên việc bế quan toả cảng không có gì khó lắm.

Tôi nhớ ra rồi, những người chạy đi tị nạn mà tôi biết đều là dân từ những thành phố lân cận. Ða số là những người thuộc tầng lớp giàu có ở miền Tây gần về hướng Croatia. Những người tị nạn chiến tranh tôi gặp, họ chạy qua Slovenia, Áo, và Ðức, duy có một anh theo gia đình chạy tuốt qua Canada. Tôi có một cô bạn đồng nghiệp khác mà tôi thân nhất đã sống ở Munich hai năm lúc chừng 15, 16 tuổi. Khi chiến tranh bùng nổ, cô ta ở một thành phố chỉ cách biên giới Croatia hai tiếng lái xe. Vậy những người sống ở phía Ðông Sarajevo, gần biên giới Serbia-Montenegro thì họ chạy đâu? Có lẽ chạy lên trời?

Chưa bao giờ tôi nhận thức rõ tầm quan trọng của địa lý như những lúc tôi suy gẫm về tình hình chiến sự ở Bosnia và Herzegovina. Ngày trước, khi tôi học và đọc lịch sử, tôi chỉ chú ý đến thời gian, địa điểm, kết cục, và may lắm thì tôi để ý chút đến động cơ, nguyên nhân sự việc. Rồi tôi ráng đọc làu làu, rốt cuộc, đếch nhớ và đếch hiểu củ tỏi gì ráo trọi. Cho nên tôi kết luận rằng lịch sự là một điều gì đó khó nuốt và khó ưa–thật ra đối với tôi, toán lý hóa văn sinh sử địa công dân thủ công mỹ thuật kỹ thuật đều là một lũ khó nuốt và khó ưa. Những ai ưa được lũ này thì tôi phục lắm.

Tổ Quốc Ăn Năn của ông Nguyễn Gia Kiểng, không nói ngoa, là bài học “đầu tiên” của tôi về sự liên hệ mật thiết giữa địa lý và những sự kiện lịch sử. Giờ thì tôi chỉ nhớ mang máng ngài NGK nói gì về núi núi, dân Ba Tàu, và dân Việt Nam ngoài việc ngài dặn dò con em chúng ta phải quan tâm, học hỏi nhiều về địa lý. Thế là tôi mất hơn một tháng trời dò tìm trường để nộp đơn học… môn địa lý. Nhưng rồi tôi thấy phê không thể tưởng vì nói theo kiểu thực dụng, “nghề này coi bộ…khó kiếm ăn.”

Sau NGK, bị một người bạn quảng cáo rủ rê mãi và cũng để có chung một đề tài để mà bàn bạc thì phụ mà nổ với hắn thì nhiều, tôi ráng ôm cuốn Guns, Germs, and Steel của Jared Diamonds về đọc. Cuốn sách này đề cập nhiều thứ, nhưng trọng điểm là địa lý.

Khi tôi áp dụng những gì hai ông này nói vào những thông tin mới hàng ngày, tôi sáng sủa ra được một vài điều.

“Ví dụ như muốn phong toả những thành phố ven biển ở Floria thì coi bộ kẹt.” Tôi nghĩ.

Vào nhà
Ok, tôi và Azra đi bộ đến đâu rồi? Trước khi tôi theo Azra vào căn hộ, tôi dừng lại chụp hình những bình nước to dựng ngược cắm cổ xuống đất. Tôi la á lên một tiếng vì tôi thấy chúng mắc cười nhưng lại im bặt ngay vì tôi sợ không biết đó có phải là nơi tưởng niệm những người đã chết không. Cười hô hô không khéo bị người ta cho là con nhà mất dạy. “Tại sao người ta lại phải chổng ngược cái bình trên mộ người chết?” Azra hỏi ngặt lại tôi. “Tao đâu biết được lề lối của đất nước mày. Tụi bay có nhiều trò, ai mà biết được.” Tôi nói. Hỏi ra tôi biềt người ta dùng những bình nhựa để che chắn những cành hoa hồng khỏi cái lạnh tím người của mùa đông nơi vùng thung lũng.

Vừa mới ló đầu vào căn hộ của Azra là tôi bị self-conscious ngay và phang tôi một câu trong đầu, “thôi rồi khỏi mời ai vào phòng mình hết.” Ai muốn vào phòng tôi thì phải lịch sự kiểu Mỹ báo trước để mà tôi thanh toán đi cái mớ bầy nhầy, nếu không thì tôi cứ mà nằm khểnh giữa đống bầy hầy bắc chân trong nhà cho khách tha hồ đứng ngoài gõ cửa. Căn hộ này trước thuộc quyền sợ hữu của ba mẹ chồng cô ta. Ông bà già chết đi để lại tài sản cho cậu con trai một. Cậu và cô gặp nhau khi hai người học đại học ở Mã Lai. Tôi gặp anh chồng một vài lần và ngoài những câu chào hỏi xã giao (tôi chào trước) tuyệt nhiên anh ta không mở miệng lấy một lời. Khi tôi gặp anh ta lần đầu tiên, tôi nói với Azra sau đó, “Ê, chồng mày đẹp trai!” Trời đất ạ, sau đó cô ta nói với tôi rằng làm như thế là phật lòng cô ta. Tôi quen với kiểu tụi Mỹ “he/she so cute!” rối nhặng mất cả trật tự nên tôi tưởng tôi sẽ làm cô ta vui và nở mũi khi tôi khen chồng cô ấy. Nhưng tôi quên béng đi rằng tôi đang tiếp xúc với một người đàn bà Hồi Giáo, hơn thế nữa cô này thuộc thành phần quấn-khăn-trên-đầu, thành phần tuân theo đường lối của Islam răm rắp.

Cô ta mở cho tôi nghe ông Cat Stevens, người đã đổi sang đạo Hồi và bị Mỹ từ chối không cho vào khi ông đáp xuống máy bay từ Anh. Ðổi Thượng Ðế, đổi prophet, nhưng giọng hát ngày nào của “Morning has broken” vẫn không mấy thay đổi.

Azra loay hoay trong bếp sửa soạn thức ăn một lúc thì chị họ của chồng đến. Bà chị h o mốt từ đầu đến chân, tiêu biểu cho người phụ nữ ở Sarajevo. Bà khoe tôi những tấm hình bà chụp trong chuyến đi Istanbul vừa qua và ví da đỏ đựng bao thuốc lá bà ta mua ở Cairo. Tiện thề tôi hỏi bà đã đi Ả Rập thì bà ta trả lời, “Không, tao không được phép vào Ả Rập vì tao không có chồng, anh, bố, và chú.” “Mày nói sao tao không hiểu. Vậy nếu tao đi một mình tao không được vào Ả Rập à.” Tôi hỏi. “Không, mày không phải là Hồi Giáo nên không sao, còn tao là người phụ nữ Hồi Giáo nên tao phài đi chung với một người đàn ông: chồng, cha, anh em ruột, hay chú, anh em họ cũng không được (ý nói chồng của Azra.”

An
Bữa ăn gồm có một dĩa bánh Burek độn khoai tây, một loại bánh địa phương rất phổ biến. Không những khoai tây, họ còn độn thịt (bánh Burek độn thị) hay phó mát (bánh Burek độn phó mát) và rưới lên đó một loại phó mát hay creams trắng lỏng, kajmak, mà dân không thích ăn bơ và phô mai như tôi mà phải le lưỡi kêu trời thò vào túi móc thêm tiền mua thêm miếng khác. Cạnh đó là một dĩa đựng những mẩu bánh mì phồng tròng quay bằng lòng bàn tay còn điểm những lớp bột trắng. Cô bạn tôi xúc vào đĩa tôi những ống pasta đưòng kính khoảng một inch nhồi thịt bò băm hai tiếng trước đó. Món sau cùng là một tô canh đặc nấu đậu que dài vời nhiều món bây giờ tôi quên ráo. Tôi húp xụp húp xùi. Ăn uống đâu ra đó xong xuôi, Azra bưng ra ba đĩa bánh ngọt (sweets) cho cô ta, tôi, và bà chị họ. Một trong hai loại bánh là “backlava”, bánh ngọt truyền thống của ngày lễ Bajram.

Con cừu tế thần (The sacrificial lamb)
Anh chồng của Azra gọi điện thoại về nói vợ ăn trước khỏi chờ anh. Theo tục lệ của người Hồi Giáo, đến ngày lễ Bajram, người ta mổ cừu tạ ơn Thượng Ðế. Khi tôi đến nhà tôi có hỏi “chồng mày đâu?” thì cô nàng trả lời gọn lọn “đì slaughter con cừu.” Tôì chưng hửng, “hắn đi thủ tiêu con cừu?” “Không có, chồng tao hiền queo, làm gì giết nổi con cừu, hắn đi ngó thôi.” Ðang ăn giữa chừng thì anh chồng lò dò về vác một bao tải đựng thịt con cừu. Lúc đầu tôi không dám nhìn vì tưởng là nguyên một con cừu máu me lung tung còn nằm trong bị, nhưng khi hai vợ chồng mở bịch lấy những miếng thịt đã cắt sẵn ra bỏ vào bịch nylôn nhỏ để đem đi phân phát. Cô ta giải thích với tôi là 1/3 số thịt cô sẽ đem cho người nghèo, 1/3 khác sẽ cho người thân, hàng xóm, và bạn bè, 1/3 còn lại giữ lại ăn. Tôi đứng ngoài lố nhố dòm họ bốt thịt, bỏ thịt thì nghe đâu đó tên tôi được kêu lớn, “C., mày thích phần nào của con cừu?” “Tao… à…tao không bao giờ nhìn thấy thịt con cừu trực tiếp như vầy. Tao… à…thì tao có ăn thịt cừu nhưng mà… ở nhà hàng người ta làm sẵn.” Tôi ấp a ấp úng. “Vậy là mày không biết phần nào ngon?” Azra nói và đưa cho tôi một miếng thịt khá lớn và dặn đi dặn lại, “mày nhớ là mày không được cho con vật nào miếng thịt này nhe, mấy con chó và mèo đó. Con cừu này nó hy sinh tính mạng.” “Nhà tao ở không có chó mèo,” tôi trấn an, “nhưng mà tao có được dục xương trong thùng rác không?” “Mày đào một cái lỗ dưới đất và chôn xương dưới đó.” Cô ta bảo. “Hừm, nhà tao ở trên núi, toàn là đá. Chắc tao cào tuyết chôn xương, đến mùa xuân người ta sẽ phát hiện ra xương cừu.” Tôi lo lắng bảo.

Tôi xớn xác ra mặt vì hơn hai tháng nay ngoài những bữa ăn lề đường và nơi công sở, ở nhà tôi món thịt duy nhất là những miếng xúc xích tròn u, ăn một lần ngon nhưng ăn chục lần thì sắp trợn tròn mắt. Nấn ná thêm vài phút nữa tôi cáo từ ra về, hớn hở với một cục thịt tươi trong túi xách, trong đầu nghĩ ngợi xem tôi sẽ sửa soạn món gì: cừu chiên giòn, cừu nướng, hay cưù luộc, ăn vã hay gặm với cơm, pasta, và bánh mì. Nói vậy là tôi muốn nổ một chút thôi vì ngoài mối lo tìm một cái lỗ chôn xương cừu dưới đất, tôi còn lo, với tài cán chộn rộn nhà bếp của tôi, tôi sẽ làm uổng phí miếng thịt cừu quý hiếm này. Dù gì thì nó cũng hy sinh tính mạng cho thiên hạ. ấm no.

Ai biết nấu thịt cừu ngon, thảy cho tôi cái recipe với! Amen!

dlakme 1/10/06

PS: Sa'ng nay di ngan qua mosque, toi thay chat dong nhung long con cuu.


Tôi nghe bản nhạc này lúc tôi khoảng mười mấy tuổi. Mặc dù lúc đó tôi không hiểu bản tiếng Pháp và không để ý đến lời tiếng Việt, nhưng bài hát này có “một điều gì” đó quyến rũ lấy tôi. Có lẽ là tiếng nhạc đệm. Cũng có lẽ là giọng cô ca sĩ du dương thì thầm kể về những gì đã qua và sẽ đến. Nhiều năm sau đó, thỉnh thoảng nghe lại bài hát này, tôi ngồi chựng lại và nhớ lại những ngày của tuổi lên mười.

Sau nhiều năm loay hoay tìm cách “trưởng thành” trong một xã hội rập khuôn với những con người và lề lối bạn có thể bỏ vào khuôn bánh lọt, tôi chính thức “chấp nhận” những thói không-thể-thay-đổi của tôi. Và cách duy nhất để bảo vệ “cái tôi” đó và để tồn tại nguyên vẹn, tôi phải quay mặt lại với xã hội và những con người rập-khuôn.

Và, có thể lần đầu tiên trong cuộc đời, tôi cảm thấy mình có thể “sống”, hơn thế nữa “sống đẹp”.

Nhận thức về sự “sống” đã mù mờ hình thành trong đầu óc tôi những bốn năm năm về trước khi tôi bước chân vào đại học, một trường đại học nổi tiếng về truyền thống giáo dục với tư tuởng khai-phóng (liberal) và tôn trọng sự khác biệt và độc lập của mỗi con người. Và đó là sự ghi ân lớn nhất của tôi về môi trường đó. Nhưng tôi phải nói đến một điều trớ trêu. Tôi có lẽ sẽ không bao giời bước chân vào ngôi trường đó nếu như từ ban đầu tôi khăng khăng vào sự khác biệt và độc lập của riêng tôi. Nói nhỏ cho bạn nghe điều này, tôi nộp đơn ghi danh học ở đó là tại vì…không hơn không kém, tôi là một muỗng bột được người ta xúc vào đổ trong cái khuôn bánh lọt tôi vừa kể trên. Tôi hì hục vò trán bức tai, gạo bài, học vẹt, làm đủ mọi cách (nhiều cách tôi không ưa) để mà tôi có thể vào được trường học đó mặc dù lúc đó tôi nào biết cái cóc khô gì về nó.

Thôi, trong 99 lần cục bột bị bỏ khuôn làm bánh lọt chỉ để cho người ta cuốn lại với rau xanh, chấm vào tô nước mắm bối mùi, bỏ miệng nuốt—toi đời miếng bánh lọt vàng giòn, trôi nổi trong tô nước mắm và bao dạ dày của kẻ phàm phu tục tử thì ít nhất cũng được một lần cục bột được góp lại để làm—let see–miếng Pizza lớn nhất thế giới.

1 lần duy nhất trong 100 cơ hội làm người rập khuôn đã mở cho tôi một thế giới khác.

Một đêm nọ, tôi và cô bạn cùng phòng, tạm dừng công việc làm dở trong một căn phòng sặc sụa khí nhân tạo từ máy điều hoà, rủ nhau ngồi trên lề đường hít thở gió tự nhiên. Tôi nhìn lên bầu trời đen che chắn bởi chằng chịt những dây điện và bảo, “Ðây mới thật là sự sống!”

Khoảnh khắc đó làm tôi giật mình thất kinh vì tôi vừa mới phát hiện ra rằng, “tôi đã chưa bao giờ sống cả.”

Vào thời điểm hiện tại, tôi ở trong một căn nhà nằm dưới chân núi nhìn xuống thành phố bên dưới. Mỗi đêm, tôi lò dò cắp xách leo dốc về nhà và nhìn lên bầu trời đen ít dây điện.

Tôi thôi không còn cân đo đong đếm tìm tòi chứng minh xem là tôi có đang sống hay là không.

Và chính vì lẽ đó tôi tin rằng tôi đang sống bạn ạ!

Ðây là bản dịch của anh ÐH cho bài hát tiếng Pháp “Quelque chose dans mon coeur”, posted lần đầu trên trang thanhda.com. Lời bản nhạc này mô tả rất chính xác một phần của giá trị sống của tôi.

Một điều gì trong trái tim tôi

Cha mẹ vẫn xem tôi như một cô bé (bản Pháp không nói mấy tuổi)
Tôi sớm đánh mất tuổi thơ dại (lớn nhanh quá) cùng bè bạn
Tuy vẫn cùng nhau tay trong tay
một điều gì kéo tôi hướng về tương lai
Khi thơ thẩn cùng nỗi buồn êm dịuvới y phục thật bụi (giày tennis cũ và slack US)
tôi thích thời gian sẽ trôi nhanh
Nhiều lần tôi muốn buông trôi tất cả

Một điều gì trong trái tim tôi
nói với tôi về chính đời mình
Giữa phút khởi đầu của một trời bí ẩn
và thời thơ ngây đang kết thúc
Một điều gì trong trái tim tôi
đánh đổ cả một cuộc đời
Một sự khao khát lạ kỳ, một nỗi lòng háo hức
và niềm lo sợ tôi sẽ quên tôi

Tôi muốn dạo vòng quanh trái đất
trở thành một nàng Ava Gardner khác
viết lên vách với dòng chữ mình
những đam mê thầm kín
tận tường những phút giây
mà tôi chỉ nhìn thấy trong những truyện phim
và có thể trở về quá khứ
gục khóc vào váy mẹ

Một điều gì trong trái tim tôi
Khi tôi chẳng ngủ một mình trong đêm tối
một mình trong thành phố ngủ yên
Có những lời thủ thỉ trầm lặng
kể một câu chuyện riêng tôi

Một điều gì trong trái tim tôi