Ngày đầu tiên
Tôi đến thành phố thủ đô Sarajevo vào ngày 4 tháng 11 sau khi nấn ná lại Zagreb thêm hai ngày thể theo lời yêu cầu của Nedjad, “mày có thể đến sớm hay trễ hơn không vì đây là ngày lễ lớn, công sở không ai làm việc.”
Ðón tôi ở trạm xe bus là Nedjad, người mà tôi trao đổi tin tức trong mấy tháng vừa qua, và Berina, cô bạn sinh viên đồng nghiệp của anh chàng. Tôi giật mình khi thấy họ ngoắc một chiếc taxi đang đợi khách ở bãi xe vì theo kinh nghiệm ở Mỹ lẫn Việt Nam, dân tài xế taxi chém đẹp, giá cả bay lên tới trời. Sau này vì có việc cần phải dùng taxi nên tôi hỏi thăm dò giá cộ đi taxi thì tôi chưng hửng vì nó rẻ như bèo. Khứ hồi từ nhà đến trạm xe buýt khoảng 30 phút hơn, tôi chỉ trả có khoảng chừng 5 đô la, nhưng tại lần đó tôi may gặp một ông già lái xe chân chính.)
Theo thói quen, vừa đặt bàn tọa xuống xe là tôi đưa tay chộp lấy seatbelt để cài. Chưa kịp làm gì thì Berina đã với lấy tay tôi, “mày không cần.” “Ơ, nhưng tao phải đeo seatbelt vào cho an toàn.” Tôi nói trả. “Ðã nói là mày không cần mà.” Berina khăng khăng. Thế là, nể lời, tôi bỏ seatbelt xuống và chăm chú nhìn ngó xe cộ chung quanh. Chiếc taxi chạy bạt mạng (xe cộ bên đây hầu hết chạy bạt mạng và chẳng nể nang ai cả) chở chúng tôi dọc theo chiều dài thành phố trước khi quẹo vào một con hẻm chỉ vừa đủ chỗ cho chiếc xe đậu. Ba chúng tôi lui cui bước ra, đeo ba lô, kéo vali leo lên con dốc đá để đi vào một ngôi nhà tươm tất với khoảng sân trước khá rộng. Ra tiếp chúng tôi là một người đàn bà xấp xỉ 40 và 50, tươi cười chào và bập bè những chữ tiếng Anh cơ bản. Sau nửa tiếng nhìn ngó căn phòng, tôi vất đồ đạc vào một xó và theo Nedjad và Berina lội xuống đồi dạo phố.
Một chút tôn giáo và chính trị
Thì ra tôi đặt chân đến thành phố này vào đúng lúc họ bắt đầu lễ Bajram thứ nhất, kéo dài bốn ngày để kết thúc tháng nhịn ăn Ramadan của họ. Theo đức tin của người Hồi Giáo, tháng Ramadan đánh dấu sự kiện Allah xuất hiện và trao scripture và trao Qu’ran cho tiên tri Muhammad. Vào tháng nhịn ăn (29 hoặc 30 ngày), họ thức dậy trước khi mặt trời mọc, làm lễ và ăn một bữa dằn bụng. Khi mặt trời mọc cho đến khi mặt trời lặn, tuyệt nhiên họ không được phép ăn và uống gì. Ngoài ra họ có một vài điều cấm kị mà tôi biết là phụ nữ trung tuần kinh nguyệt không được phép ăn chay và đàn ông không được phép ôn hôn phụ nữ.
Nếu bạn muốn biết sự quan trong của tháng Ramadan và hai lễ Bajram thì bạn hãy liên tưởng đến ngày lễ Giáng Sinh và Phục Sinh của người Cơ Ðốc.
Tôi có thói quen của một người mong đơi và hưởng (ăn theo) không khí Giáng Sinh từ bé dù đó chỉ là truyền thống chứ không phải là tôn giáo nên lâu lâu quên tôi buột miệng, “Ở đây tụi bay đón Giáng Sinh như thế nào?” Và người đối diện cười mỉm chi với tôi, “chúng tao không mừng ngày lễ Giáng Sinh mày a!” Tôi bị tổ trác như thế đến mấy lần. Một lần khác tôi đứng trước một đám học sinh trung học và bô hô cái mồm, “Khi nào tụi bay được nghỉ lễ Giáng Sinh?” Chúng nó đua nhau gào, “chúng em không được nghỉ vào ngày Giáng Sinh!” Một lần nữa, tôi hỏi một con bé xem nó có đi nhà thờ (church) hay không. Khi tôi thấy con bạn của nó nhe răng cười là tôi biết mình nói hớ; lẽ ra tôi phải nói mosque. Rồi thêm cái trò tôi gọi cuốn kinh Kuran của họ là Bible.
Ðất nước này có ba tôn giáo chính: Hồi Giáo Sunni, Chính Thống Giáo (Phưong Ðông) Serbia, và Công Giáo đại diện bởi ba sắc dân khác nhau, Bosniak, Bosnian Serbs (Serbians), và Bosnian Croats (Croatians), mặc dù ngàn năm trước họ cùng là một giống dân, người Slav. (Nói về chính trị, tôn giáo, sắc dân … của đất nước này thì gay go bởi vì nó là một mớ lộn xộn và khó hiểu cho nên tôi chỉ nói sơ sơ và để dành vào một mục khác.) Hơn mười năm trước, ở Sarajevo, tỉ lệ số dân đại diện cho ba tôn giáo này khá đồng đều với 44% Hồi Giáo, 32% Chính Thống Giáo, 17% Công Giáo, 7% còn lại là Do Thái và các đạo nhỏ khác. Tuy nhiên cuộc chiến tranh vùng Balkans 1992-1995 đã làm chênh lệch hẳn cán cân, với Hồi Giáo chiếm 90% ở thủ đô Sarajevo. Nếu tôi có dịp, tôi sẽ kể thêm một chút về cuộc chiến tranh và bạn cũng có thể truy tìm trên mạng cho những tin tức này. Ðể đơn giản hóa vấn đề, tôi giải thích đại loại sau đây:
• Serbia-Montegnegro dưới sự lãnh đạo của Slobodan (“soloban” có nghĩa là “freedom” có nực cười không hả) Milosevic xui và yểm trợ Bosnian Serbs (người Serbian ở Bosnia) nổi dậy gây chiến với người Bosniaks, tức người Hồi Giáo ở Bosnia.
• Người Bosniak liên minh với người Công Giáo Bosnian Croats, yểm trợ bởi chính phủ Croatian để chống lại người Serbs (cả Bosnian Serbs và Serbians).
• Rồi người Croats (cả Bosnian Croats and Croatians) quay qua liên minh vời Serbs nhằm mục đích cưa đôi đất nước Bosnia và Herzegovina để tạo nên Ðại Croatia (Greater Croatia) và Ðại Serbia (Greater Serbia), trục xuất hoặc là giết những người Bosniaks.
• Người Serbs bao vây Sarajevo trong ba năm, ngăn chặn tiếp tế từ bên ngoài.
• Liên Hợp Quốc và NATO trở thành những tổ chức bù nhìn, thiếu hiệu lực, và vô trách nhiệm trong cuộc chiến tranh này.
• Serbs diệt chủng 8000 đàn ông và con trai Bosniak ở làng Srebrenica, dưới sự bảo vệ của NATO.
• Dayton Peace accord cắt 49% Bosnia-Herzegovnia cho Bosnian Serbs (Cộng Hoà Serbia) và 51% cho liên minh Bosnian Croats và Bosniaks (Liên Bang Bosnia và Herzegovina) với phần lớn Bosniaks ở Bosnia và phần lớn Bosnian Croats ở Herzegovina.
Ði ăn lễ
Hôm qua cô bạn Azra mời tôi lại nhà ăn lễ Bajram lần thứ hai (lễ cúng tế), sau lễ một 75 ngày. Azra chỉ tôi đón xe trolley bus 103, chạy 15 stop đến khi thấy một cái mosque lớn thì chui ra. “Mày ngồi đếm stop nhe, đếm đến 13 thì gọi tao và tao sẽ chạy ra đón.” Tôi răm rắp nghe theo. Trên xe bus, tôi ngồi cúi đầu đọc sách, và dựa vào những lần xe bus khựng lại, tôi xòe ra một ngón tay. Azra gọi tôi khi bàn tay trái tôi chìa ra ba ngón nên tôi nói, “mày yên tâm tao đang đếm, mới đến trạm thứ tám à.” “Okay, tốt, nhớ là kêu tao khi mày đến trạm thứ 13.” Xe chạy khoảng hai stop nữa thì tôi thấy một mosque lớn với hai tháp màu xanh lá cây chỉa lên trời bên tay phải—ờ mà tháp nào chả chỉa lên trời— tôi quýnh quáng chìa tờ giấy ghi tên mosque hỏi những người xung quanh và dục ào đồ đạc vào trong giỏ, nhảy ra khỏi xe. Hoặc là tôi xe bus khựng không đúng lần hoặc là ngón tay tôi chìa ra xong lại chìa vô vì lạnh làm tôi đếm hụt.
Azra, với bộ quần áo rộng thùng thình, chạy như con chim ra đón tôi. Chúng tôi đi dọc theo con đường bên cạnh mosque trước khi băng qua đường bên kia để đi vào một khu apartment complex, nơi Azra và chồng cô ta ở. Tôi chỉ vào những bức tường lủng đầy lỗ hỏi, “Trên xe bus đi tới Mostar, sau khi ra khỏi trung tâm thành phố một chút, J., tao, và một ông người Anh thấy quá trời tường lủng lỗ như vầy. Tụi tao ngồi đóan những cái lỗ đó là vết đạn. Tao phải hỏi lại mày cho chắc chứ nhiều khi những cái lỗ chỉ do sự xuống cấp lâu ngày.”
Những vết đạn và bài học địa lý
“Ừ, nhưng mà không phải vết đạn đâu mày, viên đạn nhỏ xíu đâu để laị dấu vết rõ ràng như vậy. Ðó là vết missiles.” Azra trả lời.
“Nhưng mà tao đọc thấy là tụi Serbs núp ở trên núi và bắn tỉa xuống thành phố mà? Ở đây buildings toàn nằm ngoài tầm ngắm từ trên núi.” Tôi hỏi tiếp.
“Nhưng mà tụi nó cũng có lúc tràn xuống thành phố chứ.”
“Khi chiến tranh mày cảm thấy như thế nào?”
“Lúc đó tao ở Ðức. Hơn nữa tao không phải là dân Sarajevo, gia đình tao ở một thành phố nhỏ khác.”
“Những người ở lại vì lý do gì? Tại sao họ không đi tị nạn như những người khác? Có phải là họ không có khả năng?”
“Ừ, mà nè, Sarajevo bị siết chặt. Tụi Serbs bao vây cứng ngắc toàn thành phố, không có lối ra.”
Thành phố Sarajevo bị núi chặn ở hai đầu Nam và Bắc. Ðường giao thông chính chạy theo chiều dài Ðông-Tây, Tây-Ðông. Hơn nữa Sarajevo là thành phố nhỏ và hẹp nên việc bế quan toả cảng không có gì khó lắm.
Tôi nhớ ra rồi, những người chạy đi tị nạn mà tôi biết đều là dân từ những thành phố lân cận. Ða số là những người thuộc tầng lớp giàu có ở miền Tây gần về hướng Croatia. Những người tị nạn chiến tranh tôi gặp, họ chạy qua Slovenia, Áo, và Ðức, duy có một anh theo gia đình chạy tuốt qua Canada. Tôi có một cô bạn đồng nghiệp khác mà tôi thân nhất đã sống ở Munich hai năm lúc chừng 15, 16 tuổi. Khi chiến tranh bùng nổ, cô ta ở một thành phố chỉ cách biên giới Croatia hai tiếng lái xe. Vậy những người sống ở phía Ðông Sarajevo, gần biên giới Serbia-Montenegro thì họ chạy đâu? Có lẽ chạy lên trời?
Chưa bao giờ tôi nhận thức rõ tầm quan trọng của địa lý như những lúc tôi suy gẫm về tình hình chiến sự ở Bosnia và Herzegovina. Ngày trước, khi tôi học và đọc lịch sử, tôi chỉ chú ý đến thời gian, địa điểm, kết cục, và may lắm thì tôi để ý chút đến động cơ, nguyên nhân sự việc. Rồi tôi ráng đọc làu làu, rốt cuộc, đếch nhớ và đếch hiểu củ tỏi gì ráo trọi. Cho nên tôi kết luận rằng lịch sự là một điều gì đó khó nuốt và khó ưa–thật ra đối với tôi, toán lý hóa văn sinh sử địa công dân thủ công mỹ thuật kỹ thuật đều là một lũ khó nuốt và khó ưa. Những ai ưa được lũ này thì tôi phục lắm.
Tổ Quốc Ăn Năn của ông Nguyễn Gia Kiểng, không nói ngoa, là bài học “đầu tiên” của tôi về sự liên hệ mật thiết giữa địa lý và những sự kiện lịch sử. Giờ thì tôi chỉ nhớ mang máng ngài NGK nói gì về núi núi, dân Ba Tàu, và dân Việt Nam ngoài việc ngài dặn dò con em chúng ta phải quan tâm, học hỏi nhiều về địa lý. Thế là tôi mất hơn một tháng trời dò tìm trường để nộp đơn học… môn địa lý. Nhưng rồi tôi thấy phê không thể tưởng vì nói theo kiểu thực dụng, “nghề này coi bộ…khó kiếm ăn.”
Sau NGK, bị một người bạn quảng cáo rủ rê mãi và cũng để có chung một đề tài để mà bàn bạc thì phụ mà nổ với hắn thì nhiều, tôi ráng ôm cuốn Guns, Germs, and Steel của Jared Diamonds về đọc. Cuốn sách này đề cập nhiều thứ, nhưng trọng điểm là địa lý.
Khi tôi áp dụng những gì hai ông này nói vào những thông tin mới hàng ngày, tôi sáng sủa ra được một vài điều.
“Ví dụ như muốn phong toả những thành phố ven biển ở Floria thì coi bộ kẹt.” Tôi nghĩ.
Vào nhà
Ok, tôi và Azra đi bộ đến đâu rồi? Trước khi tôi theo Azra vào căn hộ, tôi dừng lại chụp hình những bình nước to dựng ngược cắm cổ xuống đất. Tôi la á lên một tiếng vì tôi thấy chúng mắc cười nhưng lại im bặt ngay vì tôi sợ không biết đó có phải là nơi tưởng niệm những người đã chết không. Cười hô hô không khéo bị người ta cho là con nhà mất dạy. “Tại sao người ta lại phải chổng ngược cái bình trên mộ người chết?” Azra hỏi ngặt lại tôi. “Tao đâu biết được lề lối của đất nước mày. Tụi bay có nhiều trò, ai mà biết được.” Tôi nói. Hỏi ra tôi biềt người ta dùng những bình nhựa để che chắn những cành hoa hồng khỏi cái lạnh tím người của mùa đông nơi vùng thung lũng.
Vừa mới ló đầu vào căn hộ của Azra là tôi bị self-conscious ngay và phang tôi một câu trong đầu, “thôi rồi khỏi mời ai vào phòng mình hết.” Ai muốn vào phòng tôi thì phải lịch sự kiểu Mỹ báo trước để mà tôi thanh toán đi cái mớ bầy nhầy, nếu không thì tôi cứ mà nằm khểnh giữa đống bầy hầy bắc chân trong nhà cho khách tha hồ đứng ngoài gõ cửa. Căn hộ này trước thuộc quyền sợ hữu của ba mẹ chồng cô ta. Ông bà già chết đi để lại tài sản cho cậu con trai một. Cậu và cô gặp nhau khi hai người học đại học ở Mã Lai. Tôi gặp anh chồng một vài lần và ngoài những câu chào hỏi xã giao (tôi chào trước) tuyệt nhiên anh ta không mở miệng lấy một lời. Khi tôi gặp anh ta lần đầu tiên, tôi nói với Azra sau đó, “Ê, chồng mày đẹp trai!” Trời đất ạ, sau đó cô ta nói với tôi rằng làm như thế là phật lòng cô ta. Tôi quen với kiểu tụi Mỹ “he/she so cute!” rối nhặng mất cả trật tự nên tôi tưởng tôi sẽ làm cô ta vui và nở mũi khi tôi khen chồng cô ấy. Nhưng tôi quên béng đi rằng tôi đang tiếp xúc với một người đàn bà Hồi Giáo, hơn thế nữa cô này thuộc thành phần quấn-khăn-trên-đầu, thành phần tuân theo đường lối của Islam răm rắp.
Cô ta mở cho tôi nghe ông Cat Stevens, người đã đổi sang đạo Hồi và bị Mỹ từ chối không cho vào khi ông đáp xuống máy bay từ Anh. Ðổi Thượng Ðế, đổi prophet, nhưng giọng hát ngày nào của “Morning has broken” vẫn không mấy thay đổi.
Azra loay hoay trong bếp sửa soạn thức ăn một lúc thì chị họ của chồng đến. Bà chị h o mốt từ đầu đến chân, tiêu biểu cho người phụ nữ ở Sarajevo. Bà khoe tôi những tấm hình bà chụp trong chuyến đi Istanbul vừa qua và ví da đỏ đựng bao thuốc lá bà ta mua ở Cairo. Tiện thề tôi hỏi bà đã đi Ả Rập thì bà ta trả lời, “Không, tao không được phép vào Ả Rập vì tao không có chồng, anh, bố, và chú.” “Mày nói sao tao không hiểu. Vậy nếu tao đi một mình tao không được vào Ả Rập à.” Tôi hỏi. “Không, mày không phải là Hồi Giáo nên không sao, còn tao là người phụ nữ Hồi Giáo nên tao phài đi chung với một người đàn ông: chồng, cha, anh em ruột, hay chú, anh em họ cũng không được (ý nói chồng của Azra.”
An
Bữa ăn gồm có một dĩa bánh Burek độn khoai tây, một loại bánh địa phương rất phổ biến. Không những khoai tây, họ còn độn thịt (bánh Burek độn thị) hay phó mát (bánh Burek độn phó mát) và rưới lên đó một loại phó mát hay creams trắng lỏng, kajmak, mà dân không thích ăn bơ và phô mai như tôi mà phải le lưỡi kêu trời thò vào túi móc thêm tiền mua thêm miếng khác. Cạnh đó là một dĩa đựng những mẩu bánh mì phồng tròng quay bằng lòng bàn tay còn điểm những lớp bột trắng. Cô bạn tôi xúc vào đĩa tôi những ống pasta đưòng kính khoảng một inch nhồi thịt bò băm hai tiếng trước đó. Món sau cùng là một tô canh đặc nấu đậu que dài vời nhiều món bây giờ tôi quên ráo. Tôi húp xụp húp xùi. Ăn uống đâu ra đó xong xuôi, Azra bưng ra ba đĩa bánh ngọt (sweets) cho cô ta, tôi, và bà chị họ. Một trong hai loại bánh là “backlava”, bánh ngọt truyền thống của ngày lễ Bajram.
Con cừu tế thần (The sacrificial lamb)
Anh chồng của Azra gọi điện thoại về nói vợ ăn trước khỏi chờ anh. Theo tục lệ của người Hồi Giáo, đến ngày lễ Bajram, người ta mổ cừu tạ ơn Thượng Ðế. Khi tôi đến nhà tôi có hỏi “chồng mày đâu?” thì cô nàng trả lời gọn lọn “đì slaughter con cừu.” Tôì chưng hửng, “hắn đi thủ tiêu con cừu?” “Không có, chồng tao hiền queo, làm gì giết nổi con cừu, hắn đi ngó thôi.” Ðang ăn giữa chừng thì anh chồng lò dò về vác một bao tải đựng thịt con cừu. Lúc đầu tôi không dám nhìn vì tưởng là nguyên một con cừu máu me lung tung còn nằm trong bị, nhưng khi hai vợ chồng mở bịch lấy những miếng thịt đã cắt sẵn ra bỏ vào bịch nylôn nhỏ để đem đi phân phát. Cô ta giải thích với tôi là 1/3 số thịt cô sẽ đem cho người nghèo, 1/3 khác sẽ cho người thân, hàng xóm, và bạn bè, 1/3 còn lại giữ lại ăn. Tôi đứng ngoài lố nhố dòm họ bốt thịt, bỏ thịt thì nghe đâu đó tên tôi được kêu lớn, “C., mày thích phần nào của con cừu?” “Tao… à…tao không bao giờ nhìn thấy thịt con cừu trực tiếp như vầy. Tao… à…thì tao có ăn thịt cừu nhưng mà… ở nhà hàng người ta làm sẵn.” Tôi ấp a ấp úng. “Vậy là mày không biết phần nào ngon?” Azra nói và đưa cho tôi một miếng thịt khá lớn và dặn đi dặn lại, “mày nhớ là mày không được cho con vật nào miếng thịt này nhe, mấy con chó và mèo đó. Con cừu này nó hy sinh tính mạng.” “Nhà tao ở không có chó mèo,” tôi trấn an, “nhưng mà tao có được dục xương trong thùng rác không?” “Mày đào một cái lỗ dưới đất và chôn xương dưới đó.” Cô ta bảo. “Hừm, nhà tao ở trên núi, toàn là đá. Chắc tao cào tuyết chôn xương, đến mùa xuân người ta sẽ phát hiện ra xương cừu.” Tôi lo lắng bảo.
Tôi xớn xác ra mặt vì hơn hai tháng nay ngoài những bữa ăn lề đường và nơi công sở, ở nhà tôi món thịt duy nhất là những miếng xúc xích tròn u, ăn một lần ngon nhưng ăn chục lần thì sắp trợn tròn mắt. Nấn ná thêm vài phút nữa tôi cáo từ ra về, hớn hở với một cục thịt tươi trong túi xách, trong đầu nghĩ ngợi xem tôi sẽ sửa soạn món gì: cừu chiên giòn, cừu nướng, hay cưù luộc, ăn vã hay gặm với cơm, pasta, và bánh mì. Nói vậy là tôi muốn nổ một chút thôi vì ngoài mối lo tìm một cái lỗ chôn xương cừu dưới đất, tôi còn lo, với tài cán chộn rộn nhà bếp của tôi, tôi sẽ làm uổng phí miếng thịt cừu quý hiếm này. Dù gì thì nó cũng hy sinh tính mạng cho thiên hạ. ấm no.
Ai biết nấu thịt cừu ngon, thảy cho tôi cái recipe với! Amen!
dlakme 1/10/06
PS: Sa'ng nay di ngan qua mosque, toi thay chat dong nhung long con cuu.