Category Archives: Hình


Văn hóa cà phê
Sau buổi hẹn với một phóng viên của tạp chí Azra ở quán cà phê Wiener, Saija và tôi mất gần một tiếng đồng hồ ngược xuôi nơi trung tâm thành phố tìm một quán cà phê khác có ổ điện dành cho khách để tôi dùng máy vi tính xách tay. Người Sarajevo uống cà phê như người Prague (thủ đô Tiệp Khắc) uống bia, như người Sài Gòn ngủm chè, hay như người Mỹ tu nưóc ngọt. Hẹn hò nơi quán cà phê sau giờ làm việc là một thú vui, một truyền thống không thể thiếu của lớp trẻ cũng như lớp già. Không như ở Mỹ, học sinh, sinh viên, công nhân túa vào những quán cà phê để đọc một cuốn sách mới ra lò, một mẩu tin trên báo nóng hổi, để làm nốt một bài tập; những cô cậu neo-nerd đua nhau trèo lên mạng qua hệ thống Wi-Fi network, thú giải trí đặc trưng của những thành phố thế kỷ 21 hiện đại chẳng hạn như Thung Lũng Hoa Vàng (Sillicon Valley) và Thành Phố Mưa (Seattle). Ở Sarajevo, quán cà phê đưọc dựng lên chỉ để cung cấp một không khí thoải cho những người khách ngồi trò truyện và nhâm nhi ly cà phê.

“Họ sẽ nhìn mày như là một con quái vật nếu họ thấy mày lôi cái laptop của mày ra.” Merima, một người bạn địa phương của tôi, nói. “Ở đây, người ta vào quán cà phê để nghỉ ngơi sau giờ làm việc.”

Người Hồi Giáo tự hào về truyền thống “biết cách nghỉ ngơi và thưởng thức cuộc sống” của họ. Không cần gì nhiều, đôi lúc chỉ là những chung cà phê nhỏ xíu. Ðêm trước ngày tôi rời Zagreb, thủ đô Croatia, một người bạn nói với tôi, “Tao ước gì tao được thế chỗ cho mày qua bển. Tao rất ngưỡng mộ cuộc sống của người Hồi Giáo nơi đó.”

Tìm ổ cắm điện
Tất cả những quán cà phê mà chúng tôi ghé vào, từ những ngõ hẻm nơi phố cổ cho đến con đường chính Ferhadija nơi phố mới đều chặt cứng người, đa số là giới trẻ. Ví dụ họ có ổ cắm điện đi chăng nữa tôi chắc cũng không vào vì thiếu privacy. Biết Saìjda muốn gặp anh bạn trai của cô ấy nên tôi hứa lèo, “mày đi với tao thêm 15 phút nữa, nếu không tìm được thì tao sẽ đá đít mày về nhà.” Chúng tôi lội bộ về hướng nhà thờ Công Giáo, quẹo trái ra con đường đằng sau trolley chạy. Ði mới được hai phút trên con đường treo lủng lẳng thịt và lúc nhúc những người bán quần áo rong, Saijda kéo tay tôi vào trong một mái che bên lề đường. Tưởng là cô ấy muốn mua một thứ gì đó tôi để yên không hỏi han gì cả. Một người đàn ông đi sau lưng chúng tôi ban nãy lướt qua, bàn tán bằng tiếng địa phương với cô ta và bập bẹ những chữ tiếng Anh với tôi. Thế là cô ta lôi ngược tôi về lại hướng trung tâm thành phố. Hóa ra, lúc nãy đi đằng sau chúng tôi là hai thằng móc túi mặt mốc đã từng bị đưa lên báo. Người đàn ông thấy vậy bảo Saijda né cho tụi nó đi qua và dặn tôi coi chừng cái túi. Chúng tôi đi ra đường ngoài đối diện faculty Kinh Tế và nhà thờ Chính Thống Giáo Serbian màu vàng nghệ độ sộ. Dòm trước ngó lui dọc suốt con đường không tìm được quán cà phê nào vừa ý, tôi lại kéo Saijda theo hướng phố cổ trong khi thận trọng né tránh những đống gạch vụn từ những công trình đang xây dở và những trũng nước đọng trên mặt đất sau khi tuyết tan. Dọc đường, để thử đôi dày ống cao đến tận đầu gối tôi mới mua ngày hôm qua, tôi đạp bành bạch không câu nệ vào một trũng nước. Khi thấy vớ và chân không bị ướt, tôi sung sướng mê ly.

Moríca Han
Khi vào đến trong khu phố cổ, tôi sực nhớ đến một nơi tôi tình cờ phát hiện tối hôm qua khi tôi lang thang dạo phố. Cũng như mọi lần, tôi bước chậm như rù trên con đường lót sỏi, dòm ngó hai bên cốt là để tìm ra một gì điều gì là lạ và mơi mới. Khi tôi bước qua một lối vào thâm thấp hình parabol với phương trình y=-x2(*), thì tò mò tôi chui vào. Tôi không nhớ chính xác cảm giác lúc bấy giờ, nhưng chắc chắn tôi đã nghĩ thầm với mình rằng “ồ, tôi đang đứng trong một giấc mơ.” Những ánh đèn vàng mờ mờ ảo ảo hắt lên những tấm thảm đỏ phương Ðông (Ba Tư hay Thổ) treo lủng lẳng. Vọng ra từ một quán cà phê bé xíu nằm trong góc đối diện sạp bán thảm là những nốt nhạc cổ truyền với giọng nam ca sĩ rên rỉ, ỉ ôi, loại nhạc lắc lư uốn éo từa tựa nhạc truyền thống Thổ, Ả Rập, và Ba Tư (*). Tôi đứng giữa sân cạnh khúc cây trơ trụi, cầm bịch ny lon đựng đôi giày mới mua và để cho thính giác, thị giác quay vòng.

Nơi tôi đang đứng là Moríca Han, xây cuối thế kỷ 16 khi Bosnia và Herzegovina nằm dưới sự cai trị của đế quốc Thổ Ottomen, là một trong chục cái han, điểm tá túc của những đoàn ngưòi bán buôn từ Ðông, Tây đến Sarajevo.

Tôi đẩy Saijda vào quán cà phê bé xíu cầu may. Khi tôi nhìn thấy ba bốn ổ cắm điện không ai sử dụng trên tường, tôi quan sang cười toe toét, “mày thấy chưa.” Chúng tôi bước vào gian trong, sặc sục mùi khói thuốc lá từ chiếc bàn dài kê sát tường đầy nhóc đàn ông đang tranh cãi om sòm. Tôi ngồi xuống order nhưng vẫn e dè nhìn qua đám đàn ông kế bên. Tôi đã đi khỏi Sài Gòn khá lâu nhưng ngồi trong tiệm cà phê này, tôi bị ảnh hưởng bởi những thói quen trong suy nghĩ của một người Sài Gòn chưa bao giờ được dịp đi tiệm cà phê và cũng không bao giờ nghĩ đến chuyện thò chân vô những chỗ “đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn tỏ” này vì Sài Gòn ngày trước đầy dẫy những nơi, không riêng quán cà phê, chỉ dành riêng cho phe “mày râu nhẵn nhụi.” Con gái đàn bà mà thò chân vào những chỗ này sẽ bị dòm với cặp mắt lạ kì soi mói. “Mày có chắc là chỗ này cho phụ nữ.” Tôi hỏi đi hỏi lại. Saijda trấn an tôi và tôi an tâm ngồi lại mặc dù lâu lâu tôi lại liếc nhìn những người đàn ông chung quanh tôi và bức tường khắc đầy chữ Ả rập [Leo vào hang ổ đầy Hồi.] chung quanh họ.

Khoảng 10 phút sau, thằng bé học trò tôi quen và đứa em trai của nó lố nhố đứng theo bố vào quán, đứng cạnh chiếc bàn dài đầy đàn ông tôi miêu tả lúc nãy. Tôi ngoắc hai thằng nhhỏ lại bàn tôi. Thằng anh ngày thường quậy tưng và nhiều chuyện hơn khỉ nhưng bữa nó đúng khép nép khoanh tay, “tại vì bữa nay có bố.” Sau một vài mẩu đối thoại qua lại, tôi vỡ lẽ ra là những người đàn ông ở chiếc bàn dài có thói quen hẹn nhau vào đây uống cà phê khi họ xong việc cầu nguyện mỗi thứ sáu ở một cái mosque lớn gần đó. (*)

It’s nothing to be feared. It’s merely to be understood.
- Marie Curie

Những sự sợ hãi cũng như những quan điểm thành kiến của chúng ta phần lớn vô căn cứ và chỉ dựa vào sự suy nghĩ hạn hẹp bên trong, những suy nghĩ vô tình hay cố ý reo rắc từ bên ngoài. Ðặt trong trường hợp tôi, người Việt Nam da vàng 100% trừ khoảng thời gian tóc tôi vàng khè và đỏ ké (okay không đến nỗi vàng đỏ như vậy), tôi gặp và tiếp xúc bao nhiêu mống Hồi Giáo trên cuộc đời ô trọc của tôi: chắc chắn đếm trên đầu ngón tay. Thế nhưng, tôi có bao nhiêu “kiến thức” về người Hồi Giáo và đạo của họ: bầm dập tế bào não tôi. Thống kê không con số này nói lên điều gì? Nó nói: “Chúng ta đang sống ở thời đại thông tin với coupons mua báo tháng và máy truyền hình trả góp hà rầm.” Chúng ta biết rõ hơn ai hết về sự xuyên tạc thông tin, dù gì thì chúng ta cũng là dân Châu Á, mặc dù sự xuyên tạc bằng phương tiện thông tin phổ biến từ thời xưa và không chỉ giới hạn đến dân Châu Á hay những đất nước còn theo chế độ toàn trị.

Thằng bé em rụt rè hỏi tôi đủ điều: tại sao tôi đến đất nưóc của nó vì đất nước nó bé tí teo, tôi có biết gì về đất nước của nó,…

Khối Nam Tư
Câu hỏi thứ hai của thằng nhóc em cũng là câu hỏi đặt ra từ nhiều người. Khi trả lời, tôi luôn bắt đầu như thế này: “A hèm…vào mùa cúp bóng đá thế giới năm 1990, đội bóng Nam Tư của khu vực này động đình động đám…”
Có bốn điểm làm tôi nhớ về đội bóng này:
• Họ quậy tưng và cho chầu rìa nhiều đội bóng đàn anh.
• Tập hợp những chàng cầu thủ…hơi xinh (điều này rất quan trọng trong bộ môn bóng đá :->)
• Họ có tên khá dài, Yugoslavia, so với trí nhớ tên của người Việt Nam, và tôi cứ nhầm luôn luôn với một tên cũng không phải là ngắn, Czechoslovakia, tức Tiệp Khắc.
• Tôi nghe lỏm trên TV lúc bấy giờ xầm xì về những sự lộn xộn xảy ra ở khu vực này.

Nhưng bốn năm sau đó, mùa cúp bóng đá thế giới 1994, thì cả hai bọn này, cùng với một chục đội bóng Châu Âu, đổi tên. Tên Yugoslavia và Czechoslovakia không còn nữa và được thay bởi Croatia và Czech mặc dù nhiều người Việt Nam, trong đó có tôi, theo thói quen, vẫn gọi họ là Nam Tư và Tiệp Khắc. Thỉnh thoảng chú út tôi bảo, “Mày đừng gọi Nam Tư nữa, đất nước đó sụp đổ rồi.” Tôi nghe và cảm thấy rất lạ.

Mười năm trước, bên nửa kia trái đất, tình hình chính trị trong đất nước của những người Tây mắt xanh, tóc vàng, mũi khoằm đâu có ảnh hưởng và can dự gì đến tôi và, không chỉ có tôi, triệu người Việt Nam hay Châu Á khác. Sự sụp đổ và xác nhập lại của họ, như bóng đá, là một loại tin tức tiêu khiển TV phát hình mỗi tối. Những “trò” dư đường trên sẽ không can hệ gì đến tôi nếu như tôi coi tôi là một cá nhân độc lập trong một quốc gia, một châu tồn tại độc lập và tôi chỉ đứng mãi trong cái gọi là “phạm vi độc lập” ấy. Nhưng dần dà tôi nghiệm ra rằng nếu tôi đứng mãi trong cái ô vuông “độc lập” đó của tôi, thì không chóng thì chày, tôi cũng…sập.

Nam Tư sập!

“Nam Tư sụp” là một câu ba chữ trong một mầu tin độc giả chóng quên khi đọc xong mục chính trị thế giới ba que. “Nam Tư sụp” là một câu nói ngắn từ môi của cô phóng viên đài truyền hình Việt Nam trong một bản tin dài chưa tới mười phút. “Nam Tư sụp” là một trong những mớ tin tức rối lòng bong chúng ta bỏ vào tai này chui qua tai khác để tránh tình trạng input overload. Bởi thế Nam Tư sụp, có chăng, chỉ là một sự kiện vọn vẹn của một vài phút giây. Nhưng nếu chúng muốn hiểu thêm về lịch sự, truyền, thống, văn hóa thuộc mô hình xã hội lớn và suy nghĩ, hành động thuộc mô hình cá nhân nhỏ và, quan trong hơn, muốn ăn hôi đặt mình vào trong kinh nghiệm của họ thì chúng ta hãy thử thay thế vế câu “Nam Tư sụp” với

“Sài Gòn đổ!”

Tôi nói thế thôi chớ Sài Gòn vỡ đổ ra làm sao, tôi biết gì mà tà le?

Trận bóng đá
Cũng như hàng triệu người Việt Nam khác: con nít, người lớn, người già sinh sôi, lớn lên, phát triển với và đón mừng những mùa cúp bóng đá, như nhà văn Phạm Thị Hoài đã ẩn ý đề cập trong mẩu truyện ngắn “Bao giờ cho đến bốn năm sau”. Tôi đánh cuộc lần đầu tiên bằng cách cá độ với bác trận bóng đá Ý-Pháp, mở đầu mùa cúp bóng đá Mê-hi-cô 1986. Tôi biết cóc gì về bóng đá lúc đó chỉ xem hình thấy đội Pháp có “thằng” đội trưởng tóc xù ngang vai như con gái tên Platini cười mỉm chi trông rất xinh (tôi đã nói yếu tố xinh là quan trọng nhất) nên bắt Pháp ngay lập tức không cần cù cưa oong đơ ráo trọi. Chạy về nhà hí hửng kheo với bố, chưa kịp kề đầu đuôi thì bị cụt hứng.
“Con này ngu quá mày!” Bố tôi quay sang nói với chú út. “Nó bắt đội Pháp mày ạ!”
“Mày đáng lẽ nên hỏi bố hay chú rồi tụi tao sẽ nói cho mày nghe đội nào nên chọn.” Chú tôi phân trần. “Rồi bả có chấp mày trái nào không?”
Khi tôi lắc đầu không thì bố tôi và chú tôi thốt lên: “Trời, nó ngu nữa. Bả biết mày không biết nên bả lừa mày rồi.” Hai ông thần bóng đá nhà tôi rên xiết bỏ đi không tin được con ranh nhà họ làm trò ngu ngốc thế.
Theo lời họ thì Ý lúc đó đang là đội mạnh. Pháp mặc dù có tiếng tăm trong làng bóng đá thế giới nhưng đang xuống dốc thảm thương. Nghe tường trình xong xuôi tôi chợt hiểu ra nụ cuời đắc thắng trên khuôn mặt của bác tôi, bà bà chắc mẩm phen này bả nắm phần thắng trong tay.

Sự khôn ngoan ngàn đời (conventional wisdom) dạy chúng ta phải nghiên cứu kỹ lưỡng trước khi chúng ta bắt đầu một kế hoạch làm ăn hay chỉ một kế hoạch đời thường và giảng mo-ran chúng ta rằng sự già dặn của người lớn bao giờ cũng lợi thế hơn sự khờ khạo của trê con.

Tôi đồng ý.
Nhưng!

Tôi cầm trong tay sau đó một món tiền đủ mua hai tô hủ tíu bò viên, số tiền cá độ bác tôi phải chi khi tỉ số trận bóng đá giữa Pháp và Ý là 1-0. Nếu như tôi google (ví dụ ngày đó có google) năng lực hai đội hoặc nghe theo lời bậc tiên-sinh, tức hai ông thần bóng đá nhà tôi, thì tôi sẽ thua trắng bụng—bị đói hai tô hủ tíu.

Nhiều lúc chúng ta không cần phải biết tất. Sự khờ khạo đôi khi lại là một ưu điểm vì kiến thức và kinh nghiệm dẫn đến nghi ngờ về năng lực bản thân. Hãy nhìn vào con nít. Chúng “ngu” nhất trong tất cả các loại người, thế nhưng khi chúng thích gì là cắm cổ cắm đít chạy tót đi làm việc ấy ngay lập tức. Chúng chỉ dừng lại khi bị các bậc “người già” không ngoan, tức chúng ta, nẹt, “mày không được làm nghe mày.”

Tuy nhiên tôi không gán sự khờ khạo của trẻ con và sự may mắn của người mới-ra-cuộc (beginner luck) vào sự thắng độ bóng đá của tôi. Có một yếu tố khác nặng ký hơn: bản chất trận bóng đá. Dân bóng đá vẫn thường nói rằng không chắc được điều gì khi trái bóng bắt đầu lăn. Khi bóng bắt đầu lăn, Ý mất đi sự áp đảo như lời dự đoán ban đầu.

Trong cuộc chơi bóng đá, muốn dự đoán hết mọi đường bóng, vị trí và góc cạnh nơi trái bóng sẽ rơi thật khó nếu như không tưởng. Sẽ luôn luôn có một đường bóng bất ngờ mà không một sự nghiên cứ nào có thể dự đoán cho nó. Ðường bóng này có thể dẫn tới một trái banh chết hay tới một cú gôn tuyệt cú mèo, tùy theo anh/chị cầu thủ đang đứng ở chỗ nào trên sân banh và họ làm gì với trái banh đó.

Giả sự cuộc đời là môn đá bóng, những tình huống là những trận banh, những thất bại là những đường banh chết, và những thành tựu giản đơn hay lớn lao là những trái gôn. Trong môn đá bóng không phải trên sân banh này, chúng ta không phải chầu chực đến “bốn năm sau” để chào mừng một sự kiện lớn, cúp bóng đá thế giới chẳng hạn. Thay vì dòm ngó dân chuyên nghiệp chơi đá bóng, chúng ta thây kệ lụm đâu trái bóng và chạy tới chạy lui chơi nó đại.

Tôi đã nhận một đường bóng bất ngờ như vậy và, cũng mất một khoảng thời gian khá lâu, tôi mới khều nhẹ nó
“Vào!” (*)

dlakme, first written 11/200

Notes
(*)Tôi không biết chữ tiếng Việt tả hình đó. “Vòng cung, mái vòm…”?
(*)Ðàn ông, theo tục lễ, đi mosque cầu nguyện vào ngày thứ sáu.
(*)Người ta không dùng từ Nam Tư nữa ngoại trừ những người lớn tuổi dùng theo thói quen. Nếu bạn dùng Yugoslavia vào thời điểm này, người ta hoặc hiểu bạn ám chỉ tên cũ của vùng hoặc cho là bạn nói về Serbia-Montegnero cộng hai vùng tự trị Kosovo và Vojvodina . Thành phần ly khai (thành công) gồm Slovenia, Croatia, Bosnia và Herzegovina, và Macedonia. Một trong những lý do họ muốn tách ra vì Serbia chiếm nhiều ưu đãi và ảnh hưởng quyền lực nhiều hơn dựa trên danh nghĩ nguyên khối Nam Tư. Viện trợ từ nước ngoài vào Nam Tư chủ yếu đổ về Belgrade, thủ đô Serbia. Quân đội Yugoslavia, mạnh thứ 4 ở Châu Âu, trụ sợ trung ương nằm vùng ở Belgrade. Serbia muốn duy trì khối Nam Tư và áp đặt rules và policy của mình. Vì thế, Seribia ngăn chặn và tuyên chiến với những ai muốn tách rời khỏi khối này. Serbia không còn đánh lộn với bốn nước kể trên nhưng vẫn còn lộn xộn ở Kosovo.
(*) Khi cầu thủ ghi bàn, mấy ông bình luận bóng đá la rầm rầm “vào,” “vào rồi thưa các bạn.”


Tôi nghe bản nhạc này lúc tôi khoảng mười mấy tuổi. Mặc dù lúc đó tôi không hiểu bản tiếng Pháp và không để ý đến lời tiếng Việt, nhưng bài hát này có “một điều gì” đó quyến rũ lấy tôi. Có lẽ là tiếng nhạc đệm. Cũng có lẽ là giọng cô ca sĩ du dương thì thầm kể về những gì đã qua và sẽ đến. Nhiều năm sau đó, thỉnh thoảng nghe lại bài hát này, tôi ngồi chựng lại và nhớ lại những ngày của tuổi lên mười.

Sau nhiều năm loay hoay tìm cách “trưởng thành” trong một xã hội rập khuôn với những con người và lề lối bạn có thể bỏ vào khuôn bánh lọt, tôi chính thức “chấp nhận” những thói không-thể-thay-đổi của tôi. Và cách duy nhất để bảo vệ “cái tôi” đó và để tồn tại nguyên vẹn, tôi phải quay mặt lại với xã hội và những con người rập-khuôn.

Và, có thể lần đầu tiên trong cuộc đời, tôi cảm thấy mình có thể “sống”, hơn thế nữa “sống đẹp”.

Nhận thức về sự “sống” đã mù mờ hình thành trong đầu óc tôi những bốn năm năm về trước khi tôi bước chân vào đại học, một trường đại học nổi tiếng về truyền thống giáo dục với tư tuởng khai-phóng (liberal) và tôn trọng sự khác biệt và độc lập của mỗi con người. Và đó là sự ghi ân lớn nhất của tôi về môi trường đó. Nhưng tôi phải nói đến một điều trớ trêu. Tôi có lẽ sẽ không bao giời bước chân vào ngôi trường đó nếu như từ ban đầu tôi khăng khăng vào sự khác biệt và độc lập của riêng tôi. Nói nhỏ cho bạn nghe điều này, tôi nộp đơn ghi danh học ở đó là tại vì…không hơn không kém, tôi là một muỗng bột được người ta xúc vào đổ trong cái khuôn bánh lọt tôi vừa kể trên. Tôi hì hục vò trán bức tai, gạo bài, học vẹt, làm đủ mọi cách (nhiều cách tôi không ưa) để mà tôi có thể vào được trường học đó mặc dù lúc đó tôi nào biết cái cóc khô gì về nó.

Thôi, trong 99 lần cục bột bị bỏ khuôn làm bánh lọt chỉ để cho người ta cuốn lại với rau xanh, chấm vào tô nước mắm bối mùi, bỏ miệng nuốt—toi đời miếng bánh lọt vàng giòn, trôi nổi trong tô nước mắm và bao dạ dày của kẻ phàm phu tục tử thì ít nhất cũng được một lần cục bột được góp lại để làm—let see–miếng Pizza lớn nhất thế giới.

1 lần duy nhất trong 100 cơ hội làm người rập khuôn đã mở cho tôi một thế giới khác.

Một đêm nọ, tôi và cô bạn cùng phòng, tạm dừng công việc làm dở trong một căn phòng sặc sụa khí nhân tạo từ máy điều hoà, rủ nhau ngồi trên lề đường hít thở gió tự nhiên. Tôi nhìn lên bầu trời đen che chắn bởi chằng chịt những dây điện và bảo, “Ðây mới thật là sự sống!”

Khoảnh khắc đó làm tôi giật mình thất kinh vì tôi vừa mới phát hiện ra rằng, “tôi đã chưa bao giờ sống cả.”

Vào thời điểm hiện tại, tôi ở trong một căn nhà nằm dưới chân núi nhìn xuống thành phố bên dưới. Mỗi đêm, tôi lò dò cắp xách leo dốc về nhà và nhìn lên bầu trời đen ít dây điện.

Tôi thôi không còn cân đo đong đếm tìm tòi chứng minh xem là tôi có đang sống hay là không.

Và chính vì lẽ đó tôi tin rằng tôi đang sống bạn ạ!

Ðây là bản dịch của anh ÐH cho bài hát tiếng Pháp “Quelque chose dans mon coeur”, posted lần đầu trên trang thanhda.com. Lời bản nhạc này mô tả rất chính xác một phần của giá trị sống của tôi.

Một điều gì trong trái tim tôi

Cha mẹ vẫn xem tôi như một cô bé (bản Pháp không nói mấy tuổi)
Tôi sớm đánh mất tuổi thơ dại (lớn nhanh quá) cùng bè bạn
Tuy vẫn cùng nhau tay trong tay
một điều gì kéo tôi hướng về tương lai
Khi thơ thẩn cùng nỗi buồn êm dịuvới y phục thật bụi (giày tennis cũ và slack US)
tôi thích thời gian sẽ trôi nhanh
Nhiều lần tôi muốn buông trôi tất cả

Một điều gì trong trái tim tôi
nói với tôi về chính đời mình
Giữa phút khởi đầu của một trời bí ẩn
và thời thơ ngây đang kết thúc
Một điều gì trong trái tim tôi
đánh đổ cả một cuộc đời
Một sự khao khát lạ kỳ, một nỗi lòng háo hức
và niềm lo sợ tôi sẽ quên tôi

Tôi muốn dạo vòng quanh trái đất
trở thành một nàng Ava Gardner khác
viết lên vách với dòng chữ mình
những đam mê thầm kín
tận tường những phút giây
mà tôi chỉ nhìn thấy trong những truyện phim
và có thể trở về quá khứ
gục khóc vào váy mẹ

Một điều gì trong trái tim tôi
Khi tôi chẳng ngủ một mình trong đêm tối
một mình trong thành phố ngủ yên
Có những lời thủ thỉ trầm lặng
kể một câu chuyện riêng tôi

Một điều gì trong trái tim tôi


Không biết từ bao giờ một điều ước về một cuộc sống ở nơi thành phố tuyết xảy đến với tôi. Tôi ở thành phố nhiệt đới tên gọi Hồ Chí Minh–nếu bạn không thích thì tôi đá thêm một chữ nữa là Sài Gòn vậy–từ lúc bé nứt mắt cho đến khi mười-mấy-cái-xuân-xanh, quanh năm nóng hôi hổi nên tôi giựt áo cho mát tối ngày nếu tôi không muốn thở phì phò như ông già kéo bễ. Tôi thở phì phò và tôi nhìn những tấm hình trên cuốn lịch cảnh nước ngoài mà bác và bố tôi lụm từ công ty đem về nhà chưng. Tôi đâm ra thích những bức ảnh chụp cảnh tuyết vì Sài Gòn/Hồ Chí Minh nóng hừng hực chẳng bao giờ có tuyết rơi, và vì nóng hừng hực nên chỉ thấy những giọt mồ hôi rả rích chảy long tong.

Hình ảnh tiêu biểu về nước ngoài của tôi là như thế: những bông tuyết lác đác rơi, những con đường dài trắng toát hun hút lê thê tận tới chân trời, và những căn nhà gỗ biến mất hơn một nửa, bị lấp vùi dưới những đụn tuyết kem. Chắc cũng vì vậy mà tôi thích xem các bộ phim chiến tranh của Nga với những anh Hồng quân đội mũ lông lội tuyết giữa đồng không mông quạnh và nghe người lớn chúng quanh bàn tán, “bị đi đày ở Siberia giống y hệt như thế này nè mày.”

Hồi đó tôi nghĩ rằng cứ ra khỏi Việt Nam là tôi sẽ thấy tuyết rơi. Tôi nghĩ đến mùa đông ngồi trong ngôi nhà đốt lò sưởi và ngoài đường đầy tiếng leng keng của tiếng chuông ngày Nô-En. Tôi đã thấy tuyết rơi mỗi khi bạn bè rủ tôi lái xe mấy tiếng đồng hồ đi trượt tuyết ở vùng núi cao. Tôi đã ở trong một ngôi nhà muà đông đốt lò sưởi. Và tôi đã nghe ngoài đường tiếng chuông leng keng vào ngày lễ Nô-En. Nhưng tôi chưa từng bao giờ được ba cái đó trong cùng một lúc cả. Ðược con voi đòi ông bụt tôi muốn sáng mở mắt thức dậy, nhìn ra cửa sổ, tôi thấy bông tuyết lãng đãng bay tới bay lui. Nhưng sau Hồ Chí Minh tôi sống ở một nơi thời tiết được người Việt Nam tự hào rằng na ná khí hậu Sài Gòn (để viết về một thành phố mà dùng tới hai tên, vừa tốn bytes vừa tốn sức suy nghĩ nên dùng tên nào cho phải lẽ. Ðến khi nào bạn thôi càu nhàu hoạnh hoẹ chỉ vì một cái vô bổ như là cái tên?) Vì giống Sài Gòn, làm thế nào nó bói ra được một cục tuyết rơi trong thành phố.

Thế là, mỗi năm gần đến những ngày cuối tháng 12, tôi lại chắt lưỡi mơ ước đến một ngày nào đó tôi đang ngồi trong phòng, nhìn ra ngoài tôi thấy tuyết đang rơi.

Cô bạn Sarinka, nghĩa là cô Sarka nho nhỏ, thức tôi dậy lúc gần sáng, “C., tuyết rơi.” Tôi nhỏm dậy, nhìn ra cửa sổ. Vì còn trong trạng thái mơ mơ màng màng, tôi thấy một tí màu trăng trắng nên bảo, “tao không thấy gì cả,” và nằm lăn quay ra ngủ tiếp. Nửa tiếng sau, tôi tỉnh ngủ hẳn khi nghe tiếng chuông từ một nhà thờ Công Giáo La Mã, cách nhà chắc chừng 10 phút đi bộ. Tôi chồm dậy dòm ra cửa sổ. Tôi trố mắt nhìn những căn nhà gỗ trước mặt phủ một lớp tuyết mỏng trên mái, những bụi cây xanh phủ tuyết, và bông tuyết rỉ rả rớt từ trên trời.

Tôi chạy qua phòng bên réo ủm củ tỏi, “Sarka, tuyết rơi.”

Sarka đang ngồi trên giường. Cô ấy cười mỉm chi cọp và nói, “Giáng Sinh đến rồi. Tao hạnh phúc quá!”

Buồn ơi ta khóc thương thân mình. Dấu khăn tang phủ lễ mình…Tuyết không bao giờ ngưng rơi…(*)

Ơ, tại sao ai viết lời gì thê thảm quá. Tuyết vui chứ lị, đâu có buồn hẩm hiu như thế này. Ồ mà tôi lại quên. Ðây chỉ là ngày tuyết đầu tiên tôi ở một thành phố lạ. Lạ nên vui tít mắt. Có thể đâu đó vài ngày tới, không chừng tôi cũng sẽ ngồi nhắm tịt mắt, khóc rưng rức, cầu trời cho tuyết ngừng rơi.

Sarka và tôi nhờ bà chủ nhà chụp hộ một tấm ảnh trước khi cắp tay nhau ra khỏi nhà. Tôi che cái dù cho cô ấy và chúng tôi như hai con nhện đen thui từ đầu tới đuôi, lũi nhũi leo xuống đồi. Sarka quệt một miếng tuyết và bảo, “đây là tuyết ướt nên chắc sẽ không rơi lâu đâu.”

Tôi bỏ Sarka lại một tiệm bánh để cô ta mua bánh ngọt cho bữa ăn sáng. Còn tôi đi tiếp ngẫm nghĩ đến đôi giày ống cao, những chiếc vớ dài qua đầu gối, mấy cái áo măng tô dày, dài phủ mông che cổ tôi sẽ phải mua trong những ngày sắp tới.

(*) Bai hat “Tuyet roi” loi Viet Pham Duy

Lần đầu tiên tôi thấy bà Do., Một người đàn bà trong độ tuổi tứ tuần, dong dỏng cao, tóc tém cụt ngủn, mặc áo thun ba lỗ và quần bó thể thao sát người để lộ những hình xăm đầy cổ, tay và cổ chân. Và thỉnh thoảng bà ta kéo thuốc hút. Lần nào tôi vào toilet tôi cũng ngửi thấy mùi thuốc lá sặc sụa và một đôi lần tôi thấy tàn thuốc trong toilet bowl nhìn thấy phát ghớm. Bà Do. có cái nhìn hơi dữ vì cặp mắt sắc lẹm cứ như là muốn trợn lên, làm cho tôi hơi ghờm một tý.

Hai tuần sau có dịp tôi phải đi qua chỗ bà Do., nhưng tôi chỉ nói chuyện với thằng nhỏ Weebo gầy nhom mà nhanh như con sóc (*).
“Tại sao mà lên đây?” Thằng Weebo hỏi.
“Tao ở California, tao lên đây có công chuyện một tý thôi.”
“Mày biết Valejo không, gần San Francisco, Berkeley.” Thằng nhỏ hỏi tiếp.
“Ờ, nhưng mà tao ở phía dưới một chút.” Tôi trả lời

“Mày từ California hả, vậy mà có biết vùng Bay không?” Bà Do. xen vô hỏi.
“Biết chứ, tao từ vùng Bay nè. Tao ở khu San Jose, tri-city Fremont-Union-Newark.”
“Ồ tao biết Union city, bố tao hồi đó làm ở đó.”
Rồi bà ta quay sang la lên với một thằng nhóc 17 tuổi, xăm đầy mình, “Chri. con này là homegirl của mình nè mày. Nó cũng ở vùng Bay Area.”
Bà nói tiếp “Tao với nó (tức thằng Chri.) sinh ở Antioch. Mày biết nó ở đâu không? Khu Pitsburg, Concord…”
Tôi chưa đến Antioch bao giờ nhưng tôi có một đứa bạn có người chị ở Antioch. Một lần chúng tôi lấy Amtrak từ trường của nó về, nó dừng lại ở một trạm nào đó và có ai sẽ ra đón nó về nhà người chị.
“Mày ở vùng Bay rồi chi mà mày move tới vùng khỉ ho cò gáy này vậy?”
“Tụi tao move lên đây năm 2005 chăm sóc bà ex-mom-in-law. Tao ly dị chồng tao nhưng mà tụi tao vẫn sống chung cho đến khi bà ta chết.”
“Vậy mày có tính về lại California không?”
“Có chứ. Ở đây toàn là người ignorance không hà, nhưng ở Cali mắc mỏ quá?” (*) Bà ta nói tiếp, “Mai mốt tao về chứ ở đây người ta nhìn tao dị quá. Tao ra đường họ dòm dòm tao weird. Ở San Francisco hay Berkeley người nào làm chuyện người đó. Mày mà nói ‘f. you’ họ nhìn mày ngộ ngộ.”
“Vậy chứ ở đây họ muốn ‘f. you’ thì họ làm sao?”
“Thì họ nói ‘f. youuuu’.” Bà Do. bắt chước giọng accent của người vùng Tây Bắc. “Mày biết sao không ở vùng Bay có nhiều activities lắm: concert ở công viên, SF Symphony, Theater and Art….”
“Vậy hả! Vậy mà thích loại nghệ thuật gì?”
“Tao thích play, musical theater, opera. Tao coi ‘Cats’, ‘Fiddle on the Root’”…’
“Ý, vậy mày có thích Andrew Lloyd Webber không?”
“Có chứ mày.” Bà Do. trợn tròn mắt vốn dĩ đã tròn rồi. “Thằng Chri. nó thích Symphony và Opera lắm mày ạ.” Và bào kêu thằng con, “Chri.! phải mày thích opera không con?”
Thằng nhóc đang ngồi lơ đễnh quay lại dòm chúng tôi và gật đầu, “Yah!”
“Thằng Chri. nó tin vào Buddha mày. Mày tưởng tượng coi, nó nói với bà ngoại nó, đạo Tin Lành, như vầy ‘bà, con không tin vào God của bà. Con tin vào Buddha’. Mà nghĩcoi? Hahaha.”

“Hey tao đạo Phậy nè mày.” Nói xong tôi chìa cổ ra cho xem cái tượng Phật nhỏ bằng jade và xoè tay lắc lắc cái vòng tràng hạt của tôi.

“Hey Chri.! Nó là Buddhist luôn mày.”

Nói chuyện chừng nửa tiếng tôi nghĩ, “thôi rồi đụng phải dân hippi theo kiểu San Francisco rồi!”
……..

Khoảng chừng 2 tiếng sau tôi quay lại chỗ bà Do.

“Nó đi học yoga và biết handstand, warrior poses…..Nó còn biết Brazilian Jujitsu nữa.” Bà Do., mặt mũi hãnh diện, khoe thằng Chri. với tôi.
“Wow, mày nói nó biểu diễn cho tao xem đi!” Tôi sáng rỡ.
“Chri., mày làm cái headstand cho nó coi đi!” Bà Do. gọi thằng Chri. ngay tức khắc.

Thằng nhóc chạy lại, ngồi chồm hổm xuống dưới đất, chống hai tay và tựa vào hai cái đùi và rồi nó nhấc hai cái chân nó lên khỏi mặt đất. Mọi người chung quanh bu lại xem. Thằng nhóc sung lên, đứng dậy lột cái áo thun ba lỗ nó đang mặc và chạy ra làm mấy cái handstand rồi đi qua đi lại.

“Mày nói nó do Brazilian Jujitsu đi!” Tôi hỏi, tò mò không biết có sự khác biệt gì giữa Jujitsu theo kiểu Brazil với kiểu Nhật truyền thống.

Thằng Chri. nằm bẹt ngay ra đất và hướng dấn má nó ngồi đè lên người và giơ tay ra bóp cổ nó. Xong xuôi đâu vào đó, trong tích tắc nó giơ đầu gối đè vào hông phải của má nó, nắm lấy một cánh tay phải của bà ta, slide bà ta up về phía đầu của nó. Bà Do. bị mất đà và thằng Chri. lộn qua bên phải đè bà Do. xuống đất trước khi nó lock hai cánh tay của bà ta cứng ngắc trên ngực bà.

Hai má con đứng dậy thở hổn hển. Thằng Chri. nó chạy ra phía bên kia ngồi xuốn dòm mấy người ta qua lại.

“Do. mày nói nó hát opera đi.” Tôi dụ khị bà Do.
“Chri. mày hát opera cho nó nghe đi mày!” Bà Do. la với qua bên kia.
“Ew!” Thằng Chri. nhăn mặt ra dòm má nó dòm tôi.

“Thằng này nó active quá mày, mày cho nó về lại Californina đi học đi, nó sẽ khá lắm nhưng mà phải chọn chương trình phù hợp với nó.” Tôi nói.
“Tao homeshool nó. Trường cộng đồng ở đây thì bored lắm, nó active quá không chịu nổi đâu. Tao có bằng A.S. về Science nên tao được dạy nó. Mai mốt tao về lại the Bay Area, tao tính học lên bằng cử nhân.”
“Thằng Chri. nó có ADD/ADHD không vậy?” Tôi hỏi.
“Không, nó calmed lắm, nó chỉ có problem với impulse control thôi. Nhiều khi nó làm nó không suy nghĩ trước sau.”

Giờ nghỉ giải lao, Do. vớ cái áo ấm đi với thằng Chri. ra ngoài, tôi đứng dòm từ phía xa, tôi thấy bà ta lấy cái áo quất quất nhẹ lên vai nó, nó nói cái gì lại với má nó rồi ù té chạy, và má nó cầm cái áo rượt theo nó. Hai má con la om sòm “á á….”

Dựa trên tiêu chuẩn cấp tiến của nền văn hóa ban sơ của tôi thì thằng nhóc Chri. thuộc loại du côn, lấc cấc với hình xăm cũng đầy mình như má nó và body piercing trên tai, miệng, ngực, và rún. Không biết là rủi hay may, tùy bạn quyết định, nó có một bà má chịu chơi hết cỡ thằng mộc cho nên ngoại trừ ra cái impulse control, thằng nhỏ này là một đứa con nít đúng nghĩa của nó, tức là một đứa nhỏ được tự do phát triển một cách bình thường mặc dù cái bình thường của hơi là lạ; người ngoài dòm vo có thể cau mày không tán thành. Thằng Chri. không phải là con nhà giàu nếu không nói hai má con nó thuộc giai cấp hạ lưu trong xã hội. Nhưng tôi nghĩ nó rất là vui.

Và tôi nghĩ đến những đứa trẻ của Dalai Lama. Và chắc thằng Chri là một trong số hiếm hoi đó.


(*) Weebo là cái con robot nhỏ trong phim gì của Robin Williams. Weebo là tên bà Do. đặt cho thằng nhỏ gầy nhom này.
(*) Giá thêu apartment hai phòng ở đây là $475